CHỐNG THÓI BA HOA THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ SỰ VẬN DỤNG ĐỐI VỚI GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU HIỆN NAY

Email In PDF.

CHỐNG THÓI BA HOA THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VÀ SỰ VẬN DỤNG ĐỐI VỚI GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CHÍNH TRỊ

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU HIỆN NAY

Giảng viên: Đặng Thị Ánh Tuyết

Khoa: Xây dựng Đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” tháng 10 năm 1947 dưới bút danh X.Y.Z. Tác phẩm gồm 6 nội dung chính: “Phê bình và sửa chữa”, “Mấy điều kinh nghiệm”, “Tư cách và đạo đức cách mạng”, “Vấn đề cán bộ”, “Cách lãnh đạo” và cuối cùng là nội dung “Chống thói ba hoa”. Tác phẩm đề cập đến những vấn đề cơ bản, có ý nghĩa quan trọng về xây dựng Đảng, xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên; phê phán những sai lầm, hạn chế của các tổ chức đảng, chính quyền, những khuyết điểm, thói hư, tật xấu của cán bộ, đảng viên trong lãnh đạo, quản lý và thực hiện các nhiệm vụ cách mạng. Đến nay, hơn 72 năm nhưng những tác phẩm vẫn giữ nguyên giá trị và có tính thời sự cấp thiết.

Trong tác phẩm, Bác dành cả chương VI, chương cuối cùng của tác phẩm để phân tích, phê phán thói ba hoa. Thói ba hoa có nhiều vẻ.

Thứ nhất, “dài dòng, rỗng tuếch”. Bác chỉ ra: “Nhiều anh em hay viết dài. Viết dòng này qua dòng khác, trang này qua trang khác. Nhưng không có ích cho người xem. Chỉ làm tốn giấy, tốn mực, mất công người xem. Khác nào vải băng bó mụn lở, đã thối lại dài”[1, tr.339]. Lập luận rất chặt chẽ, Bác cũng phê phán cả việc viết ngắn mà rỗng tuếch: “Viết dài mà rỗng, thì không tốt. Viết ngắn mà rỗng, cũng không hay. Chúng ta phải chống tất cả những thói rỗng tuếch. Nhưng trước hết phải chống thói đã rỗng lại dài…. Chúng ta chống là chống nói dài, viết rỗng. Chứ không nhất thiết cái gì cũng phải ngắn mới tốt” [1, tr.339]. Theo Bác, nói và viết tuy ngắn hay dài nhưng phải có “nội dung” để người đọc và người nghe hiểu nhớ, theo và làm.

Thứ hai, là thói “cầu kỳ”. Bác nhấn mạnh: “Người tuyên truyền bao giờ cũng tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe?”[1, tr.340]. Chứ không phải viết cho mình coi, nói cho mình nghe rồi cứ nghĩ ai cũng như mình hiểu được mình viết gì, nói gì. Vì vậy, trước khi nói và viết để người đọc, người nghe hiểu được thì cần tìm hiểu đối tượng, điều tra, nghiên cứu, phân tách thì mới thành công. Người phê phán “Dùng cả đoạn chữ Hán, dùng từng đống danh từ lạ, nói hoặc viết theo cách Tây, mỗi câu dài dằng dặc, thì quần chúng hiểu sao được?”[1, tr.340]. Cho nên cán bộ, nhất là cán bộ làm công tác tuyên truyền thì cần sử dụng ngôn từ sao cho ngắn gọn, bình dân, dễ nhớ, dễ hiểu.

Thứ ba, là “khô khan, lúng túng”. Bác chỉ ra, khuyết điểm của cán bộ là: “Nói đi nói lại, cũng chẳng qua kéo ra những chữ “tích cực, tiêu cực, khách quan, chủ quan”, và một xốc danh từ học thuộc lòng. Thậm chí những danh từ đó dùng cũng không đúng. Chỉ làm cho quần chúng chán và ngủ gật”[1, tr.340]. Rồi Bác căn dặn: “Chúng ta muốn tuyên truyền quần chúng, phải học cách nói của quần chúng, mới lọt tai quần chúng. Tục ngữ có câu: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Nói cũng phải học, mà phải chịu khó học mới được. Vì cách nói của dân chúng rất đầy đủ, rất hoạt bát, rất thiết thực, mà lại rất giản đơn. Anh em đi tuyên truyền chưa học được cách nói đó, cho nên khi viết, khi nói, khô khan, cứng nhắc, không hoạt bát, không thiết thực” [1, tr.341]. Học nói không riêng gì người phụ trách tuyên truyền, người viết báo, viết sách, những người nghệ sỹ; mà tất cả cán bộ, tất cả đảng viên, hễ người nào tiếp xúc với dân chúng đều là người tuyên truyền của Đảng. Người phê phán sự lúng túng, không chuẩn bị kỹ càng khi nói trước đám đông “Nhiều người trước khi nói không sắp sửa kỹ càng. Lúc ra nói hoặc lắp lại những cái người trước đã nói. Hoặc lắp đi lắp lại cái mình đã nói rồi. Lúng túng như gà mắc tóc. Thôi đi thì trẽn. Nói nữa thì chán tai”[1, tr.341].

Thứ tư, là “báo cáo lông bông”. Đó là: “Một là báo cáo giả dối. Thành công ít, thì suýt ra nhiều. Còn khuyết điểm thì giấu đi, không nói đến. Thành thử cấp trên không hiểu rõ tình hình mà đặt chính sách cho đúng. Hoặc báo cáo chậm trễ. Thành thử khi cấp trên nhận được báo cáo, thì việc đã trễ rồi, không đối phó kịp”[1, tr.341 – tr.342]. Thứ hai là trong báo cáo “Không nêu rõ vấn đề”[1, tr342]. Vấn đề tức là khi việc gì có mâu thuẫn, khi phải tìm cách giải quyết. Và theo Bác khi gặp vấn đề cần: “đề nó ra, phân tách nó (điều tra, nghiên cứu, sắp đặt), giải quyết nó” [1, tr.342]. Như vậy, bác phê bình báo cáo lông bông: giả dối, chậm trễ hay không nêu rõ vấn đề. Đó chính là biểu hiện của thói ba hoa, báo cáo thì nhiều nhưng không mang lại hiệu quả gì, không giải quyết được vấn đề.

Thứ năm, là “lụp chụp, cẩu thả”. Bác yêu cầu khi viết văn hay diễn thuyết cần thận trọng: Không biết rõ, hiểu rõ, chớ nói, chớ viết. Khi không có gì cần nói, không có gì cần viết, chớ nói, chớ viết càn. Khi viết xong một bài báo, một bản báo cáo, hoặc thảo một bài diễn văn, nhất định phải đọc lại vài lần. Mình tự phê bình bài của mình, hỏi ý kiến đồng chí khác. Những câu, những chữ thừa, vô ích bỏ đi”[1, tr.342]. Người sử dụng hình ảnh so sánh rất tinh tế: “Rửa mặt phải kỳ xát vài ba lần mới sạch. Viết văn, diễn thuyết cũng phải như vậy”[1, tr.342].

Thứ sáu, là bệnh theo “sáo cũ”. “Lớp huấn luyện là một việc rất tốt, rất cần. Nhưng phải hiểu rằng: học cốt để mà làm. Học mà không làm được, học mấy cũng vô ích. Vì vậy huấn luyện phải thiết thực, sao cho những người đến học, học rồi, về địa phương họ có thể thực hành ngay. Nhiều đồng chí ta không hiểu cái lẽ rất giản đơn đó. Cho nên họ đã đưa "thặng dư giá trị" nhồi sọ cho thanh niên và phụ nữ nông dân. Họ đã đưa "tân dân chủ nghĩa" nhồi sọ các em nhi đồng. Họ đã đưa "biện chứng pháp" nhồi sọ công nhân đang học quốc ngữ”[1, tr343]. Bác dẫn chứng một cuộc “khai hội” ở địa phương có rất nhiều khuyết điểm: kém chuẩn bị, nói mênh mông, không đúng giờ, giữ nếp cũ…Như vậy, Bác phê phán thói “sáo cũ”, khuôn sáo, máy móc trong cách nói và cách viết, trong hội nghị, hội thảo, trong các lớp huấn luyện, ngay cả trong các cuộc khai hội. Vì thế, dẫn đến kết quả là “việc thiết thực, việc đáng làm thì không bàn đến”[1, tr344].

Thứ bảy, là “nói không ai hiểu”. Đó là nói, viết cao xa, màu mè, không phù hợp với trình độ quần chúng. Cho nên quần chúng chẳng ai hiểu được cán bộ nói gì cả. Cán bộ, đảng viên: “Vẫn cứ chứng cũ. nếp cũ đó. Thậm chí, miệng càng hô "đại chúng hóa", mà trong lúc thực hành thì lại "tiểu chúng hóa". Vì những lời các ông ấy nói, những bài các ông ấy viết, đại chúng không xem được, không hiểu được” [1, tr344]. Bác cũng chỉ rõ nguyên nhân: “Vì họ không học quần chúng, không hiểu quần chúng”[1, tr344].

Thứ tám, là “bệnh hay nói chữ”. Bác phê phán nhiều cán bộ, đảng viên tiếng ta thì không nói, mà ham đi dùng chữ Hán. Nếu dùng chữ Hán đúng đã là một cái hại, vì nói quần chúng không ai hiểu. Nhưng nó càng hại hơn khi dùng không đúng, không biết rõ, không hiểu. Người dẫn ngay câu tục ngữ : "Xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ"[1, tr345].

Trên đây là các biểu hiện của “thói ba hoa”. Tác hại của “thói ba hoa” không chỉ gây nguy hại đến dân, mà còn có hại to cho công việc của Đảng. Vì thế cán bộ, đảng viên phải ra sức chống bệnh đó. Bác viết: “Chúng ta chống bệnh chủ quan, chống bệnh hẹp hòi, đồng thời phải chống thói ba hoa. Vì thói này cũng hại như hai bệnh kia. Vì ba thứ đó thường đi với nhau. Vì thói ba hoa còn, tức là bệnh chủ quan và bệnh hẹp hòi cũng chưa khỏi hẳn”[1,tr399]. Bác đưa ra “liều thuốc chữa thói ba hoa” và yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải hiểu, phải nhớ và phải thực hành. Đó là:

“1. Phải học cách nói của quần chúng. Chớ nói như cách giảng sách. Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước an của quần chúng.

2. Phải luôn luôn dùng những lời lẽ, những thí dụ giản đơn, thiết thực và dễ hiểu.

3. Khi viết, khi nói, phải luôn luôn làm thế nào cho ai cũng hiểu được. Làm sao cho quần chúng đểu hiểu, đều tin, đều quyết tâm theo lời kêu gọi của mình. Bao giờ cũng phải tự hỏi: "Ta viết cho ai xem? Nói cho ai nghe?".

4. Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết.

5. Trước khi nói, phải nghĩ cho chín, phải sắp đặt cẩn thận. Phải nhớ câu tục ngữ: "Chó ba quanh mới nằm. Người ba năm mới nói".

Sau khi viết rồi, phải xem đi xem lại ba, bốn lần.

Nếu là một tài liệu quan trọng, phải xem đi xem lại chín, mười lần.

Làm được như thế - đảng viên và cán bộ ta quyết phải làm như thế - thì thói ba hoa sẽ bớt dần dần cho đến khi hoàn toàn hết sạch mà công việc của Đảng, tư cách của cán bộ và đảng viên sẽ do đó mà tăng thêm”[1, tr.345-tr.346].

Qua chương VI của tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra khá cặn kẽ, cụ thể các biểu hiện của thói ba hoa. Đồng thời, Bác phê bình thẳng thắn những cán bộ, đảng viên có thói ba hoa. Và nó giống như loại bệnh cần phải có thuốc đặc trị mới khỏi được.

Đối với đội ngũ giảng viên trường Chính trị tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, thói ba hoa và cách phòng chống thói ba hoa trong tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn là cẩm nang để nhận diện, đấu tranh, sửa chữa, khắc phục nhằm loại trừ trận gốc căn bệnh này.

Một là, trong soạn bài và giảng bài trên lớp cần tránh “dài dòng, rỗng tuếch, lông bông”. Thông tin, tài liệu nhiều nhưng cần biết chắt lọc những nội dung liên quan tới bài giảng, có ý nghĩa thiết thực với người học. Bởi vì, hầu hết các chuyên đề trong chương trình TCLLCT - HC đều dài, nếu giảng viên sa đà quá vào một nội dung nào trong bài, hoặc nói liên thiên những nội dung không liên quan đến bài giảng, không thiết thực với người học.

Hai là, hạn chế “thói cầu kỳ”. Vẫn biết rằng, giảng viên có trình độ ngày càng cao, am hiểu ngày càng nhiều nhưng trong nói và viết cần hạn chế sử dụng ngôn ngữ hàn lâm, bác học. Nên sử dụng cách nói và viết bình dân để dễ nhớ và dễ hiểu để làm theo. Đối với giảng viên cần phải tìm hiểu, nghiên cứu kỹ đối tượng học viên của từng lớp, để từ đó đưa nội dung giảng dạy kết hợp các phương pháp, phương tiện dạy học đạt hiệu quả hơn.

Ba là, trong công việc giảng dạy của mình tránh “khô khan, lúng túng, lụp chụp cẩu thả”. Trước khi lên lớp, giảng viên cần chuẩn bị nội dung bài giảng kỹ lưỡng, tác phong đứng lớp . Đòi hỏi, bản thân mỗi giảng viên phải nắm chắc, hiểu rõ nội dung bài giảng; có kiến thức về mặt lý luận cũng như thực tiễn, có thể vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực để nâng cao chất lượng dạy học. Những nội dung nào cần giảng kỹ, nội dung nào giảng lướt, nội dung nào để học viên nghiên cứu ở nhà. Giáo án thường xuyên cập nhật những thông tin số liệu mới, bài soạn powerpoint chăm chút từng slide: nội dung cô đọng, lựa font chữ, size chữ, màu chữ, biểu đồ, sơ dồ, hình ảnh hay clip minh họa phải phù hợp.

Bốn là, đối với giảng viên cần loại bỏ “bệnh theo sáo cũ, nói không ai hiểu, bệnh hay nói chữ”. Tức là giảng viên phải truyền tải tới học viên những kiến thức về mặt lý luận chính trị - hành chính; đường lối, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; kiến thức và chuyên môn, nghiệp vụ về công tác xây dựng đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; kiến thức về pháp luật, quản lý nhà nước và một số lĩnh vực khác… Để học viên lĩnh hội những kiến thức đó cần đi sâu vào những nội dung học viên cần và có thể vận dụng vào thực tế ở địa phương hay cơ quan, đơn vị mình. Cho nên giảng viên phải giảng những gì mà học viên cần chứ không giảng những gì mình biết. Bởi vì có những nội dung mình thấy hay, mình am hiểu, mình biết nhưng chẳng thiết thực gì đối với công việc của học viên.

Như vậy, chống “thói ba hoa” theo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những nhiệm vụ thường xuyên, liên tục đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung và đặc biệt hết sức quan trọng và cần thiết đối với đội ngũ giảng viên trường Chính trị tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nói riêng. Vì thế, mỗi giảng viên phải thực sự thấm nhuần từng từ, từng câu, từng chữ mà Người chỉ dạy trong việc chống “thói ba hoa” để ngày một hoàn thiện bản thân, nâng cao chất lượng công tác giảng dạy đáp ứng yêu cầu hiện nay.

1. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 5.

2. PGS.Song Thành (1999), Hồ Chí Minh nhà văn hóa kiệt xuất, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội.

3. TS.Đỗ Thị Minh Thúy (2006), Tư tưởng Hồ Chí Minh với vấn đề văn hóa trong phát triển, Nxb.Văn hóa thông tin & Viện Văn hóa, Hà Nội.

4. Nguyễn Văn Khoan, Nhớ lời Bác dạy, Nxb Lao động, Hà Nội, 2009.

5. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, XI, XII.

 

 

 

Joomla inotur picma