NHỮNG VẬT DỤNG BÌNH THƯỜNG GÓP PHẦN LÀM NÊN CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ 1954

Email In PDF.

NHỮNG VẬT DỤNG BÌNH THƯỜNG GÓP PHẦN LÀM NÊN

CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ 1954

ThS. Trần Ngọc Sáng

Khoa Xây dựng Đảng

Ngày 07/5/1954, tin vui chiến thắng từ Điện Biên Phủ đã làm nức lòng quân dân cả nước. Thế giới chấn động trước kỳ tích của một dân tộc nhỏ bé dám anh dũng đứng lên chống lại kẻ thù xâm lược hùng mạnh hơn gấp nhiều lần. Chiến thắng Điện Biên Phủ là đỉnh cao của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954, giáng một đòn đau vào dã tâm xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Chiến thắng này đã mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa quan trọng đối với phong trào giải phóng dân tộc, mở đầu sự sụp đổ hệ thống thuộc địa kiểu cũ của chủ nghĩa thực dân trên phạm vi toàn thế giới.

Thời gian trôi qua, đến nay những sự kiện xoay quanh chiến dịch Điện Biên Phủ đã được các nhà sử học, những chuyên gia quân sự phân tích, nghiên cứu rất nhiều. Nhắc điến chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, người ta nói nhiều đến vai trò của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với việc thay đổi phương châm tác chiến chiến lược vào phút chót, từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc"; yếu tố bất ngờ cho kẻ thù từ kỳ tích dùng sức người kéo những khẩu pháo nặng hơn hai tấn vượt qua núi rừng hiểm trở, giáng những đòn sấm sét xuống đầu kẻ thù; những tấm gương cán bộ, chiến sỹ chiến đấu dũng cảm quên mình, sẵn sàng hi sinh cho Tổ quốc; sự đồng lòng chung sức của đồng bào cả nước, tất cả vì chiến thắng cuối cùng; sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới... Tất cả những yếu tố đó tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn để quân dân ta giành chiến thắng.

Tuy nhiên, lịch sử là một bức tranh sinh động, cần được tiếp cận từ nhiều góc độ để nhìn nhận một cách chính xác, chân thực và toàn diện. Để góp phần làm nên một Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", nối tiếp những chiến thắng Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa... Trong lịch sử, còn có vai trò không nhỏ của cả những vật dụng hết sức bình thường trong cuộc sống hàng ngày, nhưng đã được quân dân ta sử dụng một cách mưu trí, sáng tạo để góp phần vào thắng lợi cuối cùng. Sau đây là một số vật dụng tiêu biểu như vậy:

1. Xe thồ

Một trong những lý do để thực dân Pháp tự tin vào sức mạnh của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ chính là vị trí địa lý của nó. Bao bọc xung quanh Điện Biên Phủ là núi rừng hiểm trở, giao thông rất khó khăn. Đó là trở ngại lớn về hậu cần cho quân đội ta nếu tổ chức tiến công lên đây. Cơ quan tham mưu của quân viễn chinh Pháp tin rằng: "Việt Minh không thể duy trì ở thượng du quá hai đại đoàn và 20.000 dân công. Sự bấp bênh về giao thông không cho phép họ mang tới đó pháo trên 75mm cùng với đạn pháo quá bảy ngày chiến đấu"[1]. Thực tế chiến dịch cho thấy, vấn đề hậu cần đúng là một trong những khó khăn lớn nhất mà quân dân ta phải vượt qua khi tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Để phục vụ chiến dịch, toàn bộ 16 đại đội xe cơ giới với 534 xe vận tải của ta đều đã được huy động. Tuy nhiên, như vậy vẫn là chưa đủ. Cần biết rằng, trên chiến trường cơm ăn, nước uống và thuốc men cũng quan trọng như vũ khí. Không đủ lương thực, thuốc men thì người lính dù được trang bị vũ khí tốt đến đâu cũng không thể chiến đấu hiệu quả được. Do đó đối với bất kỳ trận đánh hay chiến dịch quân sự nào, hậu cần luôn là vấn đề cần phải được đặc biệt quan tâm. Trong khó khăn chồng chất lúc bấy giờ, những chiếc xe thồ vốn là một sáng tạo độc đáo của nhân dân ta, đã phát huy tác dụng vô cùng to lớn. Đó là những chiếc xe đạp được cải tiến lại một số chi tiết để có thể tải được nhiều hàng hóa hơn. Mỗi xe thồ lúc đầu chở được 100 kg. Về sau, do nhu cầu nhu yếu phẩm của chiến dịch tăng cao, tải trọng mỗi chiếc tăng lên 200 kg, thậm chí 300kg. Anh Ma Văn Thắng, một dân công Phú Thọ, lập kỷ lục chở được đến 352 kg. Năng suất xe thồ cao gấp 10 lần dân công gánh bộ. Tính ưu việt của xe thồ là nó có thể hoạt động trên cả những tuyến đường mà xe ô tô vận tải không thể đi được. Nhờ những chuyến xe thồ, công tác hậu cần cho chiến dịch đã cơ bản được đảm bảo cho đến ngày giành thắng lợi. Chính phương tiện này là một bất ngờ lớn đối với Bộ tham mưu quân viễn chinh Pháp, làm đảo lộn những toan tính trước đó của họ về cuộc chiến tại Điện Biên Phủ.

2. Cuốc xẻng

Tấn công tiêu diệt một tập đoàn cứ điểm với hơn 12.000 quân được trang bị khí tài hùng hậu như Điện Biên Phủ là một vấn đề vô cùng khó với trình độ và trang bị của quân đội ta thời điểm đó. Cần lưu ý rằng, cuối năm 1952 đầu năm 1953, tập đoàn cứ điểm Nà Sản (Sơn La), với quy mô nhỏ hơn nhiều so với Điện Biên Phủ, đã dễ dàng vô hiệu hóa cuộc tấn công của hai đại đoàn chủ lực quân ta. Bởi vậy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp sau khi nghiên cứu kỹ tình hình đã quyết định chuyển phương châm tác chiến từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc". Điều này giúp quân ta tránh được mũi nhọn của kẻ thù là ưu thế về vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại. Thực hiện phương châm "đánh chắc tiến chắc", Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định xây dựng một hệ thống chiến hào để bao vây tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, từ đó đánh lấn dần, mở rộng địa bàn kiểm soát tiến tới tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm. Hệ thống chiến hào thực sự là một trong những nhân tố quan trọng góp phần làm nên thắng lợi vẻ vang của chiến dịch Điện Biên Phủ. Thực hiện chủ trương đó, Điện Biên Phủ biến thành một công trường khổng lồ. Những đường hào không ngừng phát triển, đó không chỉ là chiến tuyến, mà còn là nơi ẩn náu an toàn của bộ đội, tạo ra những đợt tấn công bất ngờ hoặc bắn tỉa quân địch hiệu quả. Tính chung cả chiến dịch, bộ đội và công binh của quân ta đã xây dựng hơn 200 km chiến hào, cả chiến hào nổi và chiến hào ngầm. Bên cạnh đó là những đường cơ động pháo, những hầm ngầm làm nơi ở và sinh hoạt cho bộ đội... Những người tham gia đào chiến hào phải lao động cật lực 14 đến 18 tiếng mỗi ngày trong điều kiện hết sức vất vả và nguy hiểm (mưa dầm, gió bấc, bùn nước, bom đạn của kẻ thù...). Nếu như thực dân Pháp khi xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ có các công cụ hiện đại trợ giúp (máy ủi đất, máy xúc...) thì bộ đội và dân công ta làm việc chỉ bằng những công cụ thô sơ là cuốc xẻng. Những lưỡi cuốc, lưỡi xẻng đến những ngày cuối cùng của chiến dịch đã mòn vẹt cả lưỡi, nhưng những chiến hào vẫn liên tục phát triển, siết chặt vòng vây. Đây chính là cái vòng lửa ghê gớm đã thiêu đốt "con nhím Điện Biên Phủ", đảm bảo yếu tố tất thắng của quân dân ta trước một tập đoàn cứ điểm được mệnh danh là "pháo đài không thể công phá".

3. Con cúi

"Con cúi" là vật dụng rất phổ biến tại nông thôn nước ta, được làm bằng rơm, với chức năng chủ yếu để giữ lửa. Tuy nhiên, tại chiến trường Điện Biên Phủ, những "con cúi" lại được sử dụng với mục đích khác. Việc xây dựng các chiến hào dưới mưa bom bão đạn của kẻ thù là một công việc rất nguy hiểm. Song, với trí thông minh sáng tạo, cán bộ và chiến sỹ ta luôn nghĩ ra những cách rất độc đáo để khắc phục. Những "con cúi" đã được dùng làm lá chắn để đưa chiến hào từ xa tiếp cận cứ điểm. Những khối rơm bện khổng lồ dài đến 2m, kính 1.5m được đưa lên phía trước chiến hào, chặn hết bắn thẳng từ lô cốt địch bắn ra, đảm bảo an toàn cho những người đào trận địa phía sau. Chính nhờ những "con cúi" mà bộ đội, công binh của ta giảm được thương vong, tốc độ phát triển của các chiến hào trở nên nhanh chóng. Tuy nhiên, cũng cần phải nói thêm, chiến hào càng vào gần lô cốt địch thì "con cúi" càng giảm tác dụng, bởi nó không ngăn được hỏa lực bắn từ hai bên sườn, lựu đạn và đạn cầu vồng quân địch bắn ra. Để giải quyết vấn đề này, một số chiến sỹ tân binh, vốn là du kích ở vùng địch hậu, đã đề nghị phương pháp đào dũi, khoét ngầm dưới đất để tiến vào lô cốt địch, vừa giảm thương vong vừa giữ được bí mật. Phương pháp đào này sau đó đã được chấp nhận, trở thành một chiến thuật tấn công lợi hại của quân ta, giáng cho kẻ thù những đòn bất ngờ. Như vậy, mặc dù những "con cúi" còn có nhược điểm và chỉ có tác dụng trong những tình huống nhất định, nhưng không thể phủ nhận đây là một trong những sáng tạo độc đáo của quân dân ta góp phần vào thắng lợi chung.

4. Bài tây (tú lơ khơ)

Nhắc đến hình ảnh người lính, nhiều người nghĩ ngay đến bom đạn, những trận chiến khốc liệt, những tấm gương chiến đấu dũng cảm, những hi sinh mất mát... Điều đó đúng nhưng chưa đủ, bởi người lính cũng là những con người. Cuộc đời của người lính tuy mang trách nhiệm nặng nề với Tổ quốc nhưng họ vẫn có những nhu cầu rất cơ bản về vui chơi, giải trí, thư giãn tinh thần. Nếu không đảm bảo được điều đó, cuộc sống của người lính sẽ trở nên khô khan, tẻ nhạt, khó có thể chiến đấu hiệu quả. Hiểu rõ vấn đề này, Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ rất quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ, chiến sỹ. Cuộc vận động "Ba tốt" (ăn tốt, ngủ tốt, đánh tốt) được triển khai rộng rãi trên toàn mặt trận. Các cán bộ chính trị, quân y tới tận nơi bộ đội sinh hoạt và chiến đấu, nghiên cứu tạo mọi điều kiện ăn, ở, giải trí sao cho bộ đội giữ gìn được sức khỏe và sinh hoạt thoải mái. Những hầm hào được mở rộng, gia cố vững chãi để chống lại bom đạn. Mỗi "căn nhà" được quét dọn sạch sẽ, có cả "giường" bằng đất. Bếp Hoàng Cầm được cải tiến, có cả nơi đun nấu, kho thực phẩm. Đặc biệt, bộ đội còn được cho phép chơi bài tú lơ khơ mỗi khi rảnh rỗi. Tất cả những biện pháp trên đã làm cho cuộc sống của người lính trên mặt trận được cải thiện rất nhiều. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong một cuộc họp cán bộ, cũng đã nêu quan điểm: "Quân địch ở Mường Thanh bị bao vây chặt không thể rời khỏi hầm thì khó bình thường hóa sinh hoạt. Nhưng trận địa của ta thoáng rộng, liền kề với hậu phương. Ta vẫn có thể bình thường hóa sinh hoạt của bộ đội, như tổ chức cho anh em luân phiên về phía sau tắm giặt, cố tìm rau xanh, đảm bảo cho anh em ăn cơm nóng, uống nước nóng. Những điều này bộ đội đã làm được ngay trên đường hành quân. Việc tổ chức hầm ngủ cho sạch sẽ, nằm đủ duỗi chân, có cỗ bài tú lơ khơ, sách báo cho anh em giải trí... đều là những việc hoàn toàn có thể làm được. Không đảm bảo sinh hoạt bình thường cho bộ đội để giữ gìn sức khỏe, sẽ không đảm bảo phương châm "đánh chắc tiến chắc" đi tới thắng lợi" [2]. Chính vì những quan điểm rất nhân văn như thế mà tình cảm giữa người cán bộ chỉ huy với bộ đội trở nên gần gũi, gần như không hề có khoảng cách. Điều kiện sinh hoạt tốt đã góp phần không nhỏ giúp nâng cao tinh thần lạc quan cách mạng, ý chiến đấu dũng cảm của cán bộ, chiến sỹ ta cho đến ngày thắng lợi cuối cùng.

Tóm lại, chiến thắng của cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 với đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ là thành quả vĩ đại của sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc suốt chín năm kháng chiến chống Pháp. Những bài học lịch sử đã được rút ra về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, nghệ thuật quân sự, công tác hậu cần... Tuy nhiên, nghiên cứu về chiến dịch này ở một góc độ khác, với sự thông minh, sáng tạo rất độc đáo của các cán bộ, chiến sỹ, sẽ góp phần làm cho thế hệ đi sau hiểu tường tận hơn về bức tranh lịch sử./.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Võ Nguyên Giáp, Tổng tập hồi ký, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008.

2. Hoàng Lâm, Điện Biên Phủ một kỳ quan lịch sử, Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2014.

3. Hoàng Minh Thảo, Điện Biên Phủ - Trận thắng thế kỷ, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2014.



[1] Võ Nguyên Giáp, Tổng tập hồi ký, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008, tr 906.

[2] Võ Nguyên Giáp, Tổng tập hồi ký, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008, tr 1061.

 

Joomla inotur picma