SÁCH LƯỢC NGOẠI GIAO CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI QUÂN ĐỘI TƯỞNG GIỚI THẠCH SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

Email In PDF.

SÁCH LƯỢC NGOẠI GIAO CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

VỚI QUÂN ĐỘI TƯỞNG GIỚI THẠCH SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

ThS. Trần Ngọc Sáng

Khoa Xây dựng Đảng

Tháng 8/1945, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc với sự thất bại hoàn toàn của các nước phe phát xít. Quân đội Nhật ở Đông Dương rệu rã, suy sụp ý chí chiến đấu, trong khi đó lực lượng các nước Đồng Minh chưa kịp kéo đến. Đảng và dân tộc Việt Nam đã tranh thủ thời cơ "ngàn năm có một" này để tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, phá tung xích xiềng nô lệ, lật nhào chế độ thực dân - phong kiến, thành lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tuy vậy, tình cảnh nước ta lúc này ở thế "ngàn cân treo sợi tóc". Đất nước vừa giành độc lập thì hơn 18 vạn quân Tưởng tiến vào, nửa vạn quân Anh - Ấn kéo sang. Ngay sau đó, mấy vạn quân viễn chinh Pháp cũng lên tàu hướng thẳng đến Đông Dương. Bọn thực dân Pháp thua trận bị quân Nhật bắt giam sau ngày 09/3/1945 đang được trang bị lại, bọn lẩn trốn ở Trung Hoa cũng đang trở về. Nước Nhật đã đầu hàng, song quân đội Nhật ở Đông Dương chưa hề bị tổn thất nặng, vẫn còn trên 6 vạn. Chưa bao giờ trên lãnh thổ nước ta lại có nhiều lực lượng quân sự đến như thế. Nguy cơ ngoại xâm ngày càng kề cận. Trong khi đó, dư âm của nạn đói khủng khiếp khiến hai triệu đồng bào chết đói vẫn chưa dứt. Di sản của chế độ thực dân - phong kiến khiến 95% dân số mù chữ. Ngân sách nhà nước thì trống rỗng... Những khó khăn đó đòi hỏi cần có một sự lãnh đạo sáng suốt, khôn khéo và một bản lĩnh chính trị phi thường để lèo lái con thuyền cách mạng vượt qua thác ghềnh bão tố để tiếp tục tiến lên phía trước.

Đối phó với quân đội Đồng minh tiến vào Đông Dương giải giáp quân đội Nhật là một khó khăn lớn mà Đảng ta phải đương đầu. Riêng đối với dã tâm của Quốc dân Đảng Trung Hoa, chúng ta đã biết từ lâu. Quân Tưởng tiến vào nước ta với dã tâm "diệt Cộng cầm Hồ", mong muốn lật đổ chính quyền cách mạng, thôn tính nước ta. Tuy nhiên, tình thế lúc này cần phải hòa hoãn với chúng, bởi ta cần có thời gian để củng cố và xây dựng lực lượng cho chính quyền non trẻ vừa mới ra đời, dồn mũi nhọn chủ yếu vào kẻ thù chính là bọn thực dân Pháp ở miền Nam đang lăm le muốn đưa nước ta trở lại thành thuộc địa. Khẩu hiệu được chúng ta đề ra là "Hoa - Việt thân thiện". Đây là chủ trương rất đúng đắn của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nửa đầu tháng 9/1945, các đơn vị quân Tưởng đã tiến qua biên giới, tràn ra hầu khắp các tỉnh Bắc bộ như một dịch bệnh. Theo gót quân đội Tưởng là bọn tay sai Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mạng đảng (Việt Cách). Đi đến đâu, quân Tưởng và tay sai thể hiện bộ mặt ngang ngược đến đó, coi như đi đến một nơi không hề có chính quyền. Chúng tự cho mình quyền giữ trật tự trị an, tự định giá đồng tiền quan kim, quốc tệ - những đồng tiền mà từ lâu đã mất giá, chẳng khác nào mớ giấy lộn. Chúng còn đề ra cả những quy định để kiểm soát xe cộ đi lại ở nhiều nơi. Ngay khi vừa đặt chân đến thủ đô Hà Nội, đại diện quân Tưởng đã đến gặp Chính phủ ta, xin cấp giấy phép để mang vũ khí trong thành phố. Cán bộ ta hỏi ý kiến Bác xem có nên cấp giấy phép cho chúng không? Bác trả lời: "Làm một con dấu, cấp giấy phép cho chúng thôi. Sắp đến lúc chúng không cần đến giấy tờ của ta nữa đâu". [1]Tiên đoán của Bác không hề sai. Rất nhanh sau đó, quân Tưởng lập tức rải ra chiếm đóng khắp thủ đô. Chúng bố trí những trạm canh gác, trạm kiểm soát khắp các đường phố, các cửa ô. Tất cả các xe qua lại đều phải có giấy phép do chúng cấp. Quân Tưởng ngang nhiên coi như đã chiếm đóng được thủ đô Hà Nội. Có thể thấy, nhờ tầm nhìn xa trông rộng của Bác mà chúng ta tránh được xung đột với quân Tưởng ngay những ngày đầu chúng mới đến thủ đô. Nếu lúc đó chúng ta gay gắt về vấn đề cấp giấy phép, sau này chúng ta sẽ rất khó có thể đối thoại với quân Tưởng về bất cứ vấn đề gì. Sự việc này đã tạo nền tảng tốt đẹp trong quan hệ giữa ta và quân Tưởng, khiến chúng có cái nhìn bớt ác ý hơn đối với chính phủ ta, hạn chế được phần nào những hoạt động chống phá của chúng.

Một hôm, Bộ tư lệnh quân đội Tưởng yêu cầu Bác đến hội kiến. Sau một cuộc làm việc kéo dài, Bác trở về với tâm trạng nặng nề, lặng lẽ ngồi vào bàn ăn. Bữa ấy, Bác buông đũa sớm hơn thường lệ. Thái độ ấy thật ít thấy ở Bác. Rồi Bác kể lại, sáng nay bọn Tưởng đòi Bác ký giấy chấp nhận cung cấp cho bọn chúng một số gạo rất lớn. Bác đã từ chối. Song Bác biết chắc chắn chúng sẽ tiếp tục làm rầy rà về chuyện này. Rồi Bác trầm ngâm: "Gạo đâu mà đưa chúng nhiều thế? Dân mình có đủ gạo ăn đâu?" [2] Nói thì như vậy, song Bác đã tinh ý nhận thấy sự bất bình của mọi người xung quanh. Một lần nữa, bằng giọng nói điềm đạm, Bác nhắc lại, cần phải biết kiên nhẫn, bởi xung đột với quân Tưởng lúc này hoàn toàn không có lợi cho ta. Qua câu chuyện này có thể thấy, việc hòa hoãn với quân Tưởng chỉ là sách lược tạm thời của ta và quân Tưởng. Chúng ta chỉ đáp ứng những điều kiện của chúng trong phạm vi có thể chấp nhận được, chứ không phải cung ứng tất cả những yêu cầu vô lý của kẻ thù một cách vô điều kiện. Đằng sau những lời nói của Bác là cả một tấm lòng yêu nước thương dân vô bờ bến, luôn luôn cố gắng làm những gì tốt nhất cho Tổ quốc, cho dân tộc.

Hòa hoãn với quân Tưởng không phải là một điều dễ dàng. Tuy nhiên, Bác luôn biết cách lợi dụng những mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù để lợi dụng. Bọn tướng lĩnh quân đội Tưởng ở nước ta gồm nhiều phe cánh khác nhau. Tất cả bọn chúng giống nhau ở chỗ đều có tư tưởng chống Cộng, nhưng vì mâu thuẫn lẫn nhau về quyền lợi nên thái độ phản động của bọn chúng ít nhiều khác nhau. Trước hết là trường hợp của Lư Hán, Tư lệnh quân đoàn 93 của Vân Nam. Lư Hán là thuộc hạ thân tín của Long Vân - tỉnh trưởng Vân Nam. Long Vân từ lâu đã có mâu thuẫn với Tưởng Giới Thạch. Vì vậy Tưởng Giới Thạch điều quân đoàn 93 xuống nước ta để làm suy yếu lực lượng của Long Vân, một bước dọn đường để tiến hành thanh trừng nội bộ. Biết được hoàn cảnh bấp bênh của mình, Lư Hán vẫn thường tỏ ra trầm tư. Cũng vì lý do đó, trong một chừng mực nào đó Lư Hán tỏ ra có cảm tình với cách mạng Việt Nam nói chung và cá nhân Bác Hồ nói riêng. Trong những lần gặp gỡ với Lư Hán, Bác thường thân tình trò chuyện với hắn về tình hình Việt Nam, Trung Hoa và thế giới. Hiểu biết của Bác rất sâu rộng, cho nên chỉ sau đôi lần gặp gỡ, Lư Hán đã tỏ thái độ cảm phục. Vì thế, Bác đã tranh thủ làm cho hắn hiểu cuộc đấu tranh giành độc lập và chủ trương "Hoa - Việt thân thiện" của ta. Đôi lúc, Bác còn cho hắn biết phần nào những việc làm xấu xa của bọn Việt Quốc, Việt Cách. Trong những lần tiếp xúc, Lư Hán bao giờ cũng gọi Bác một cách rất trân trọng là Chủ tịch Hồ Chí Minh, chứ không xưng hô theo cách khác. Nghe tin Bác tới, hắn thường ra tận cửa đón tiếp. Cả khi Bác về cũng vậy.

Trường hợp thứ hai là Tiêu Văn, chủ nhiệm chính trị của chiến khu thứ tư do Trương Phát Khuê đứng đầu. Tưởng Giới Thạch vốn không ưa Trương Phát Khuê, song vẫn phải dùng Tiêu Văn vì hắn phụ trách theo dõi tình hình Việt Nam từ lâu và đang nắm bọn tay sai Việt Nam Quốc dân đảng. Khi Tiêu Văn đến Hà Nội, Bác chỉ thị chọn cho hắn một ngôi nhà rất sang trọng. Lúc đầu, Tiêu Văn không chịu tới chỗ ở do ta sắp xếp mà đem bọn tay sai về đóng một ngôi nhà ở phố Cửa Đông. Thấy thái độ của Tiêu Văn còn e dè, Bác quyết định đến thăm. Cán bộ ta nhiều người tỏ ra lo ngại. Bác vẫn ung dung không hề lo lắng, chỉ định mấy đồng chí cùng đi. Thấy một đồng chí mang dép, Bác bảo về nhà thay giày. Rồi Bác nói: "Khi nào gặp "người ta", tôi ăn mặc thế nào cứ mặc tôi, nhưng các chú thì phải cho tề chỉnh".[3] Khi ấy Tiêu Văn đang ở nhà trong, nghe báo có Chủ tịch Hồ Chí Minh tới, hắn vội ra tiếp. Sau vài câu xã giao, Bác bèn nhắc lại những kỷ niệm trong thời gian Bác hoạt động cách mạng ở Liễu Châu (Trung Quốc). Trước sự am tường của Bác về tình hình Trung Hoa, Tiêu Văn tỏ ra niềm nở hơn. Sau một hồi trao đổi, Bác đề nghị Tiêu Văn hãy bỏ qua những hiểu lầm giữa hai bên để cùng hợp tác giải quyết tốt mọi vấn đề trong quan hệ Hoa - Việt. Sự chân thành của Bác đã khiến Tiêu Văn phần nào thay đổi thái độ. Sau cuộc gặp, Tiêu Văn hứa sẽ đặt quan hệ với Chính phủ ta, đồng thời dọn đến ở ngôi nhà mà ta đã sắp xếp. Dựa trên mối quan hệ tương đối tốt đẹp này, từ đó về sau, Bác đã dùng Tiêu Văn để giải quyết phần nào những va chạm giữa ta với quân Tưởng.

Trường hợp thứ ba là Chu Phúc Thành, là tướng lĩnh trực thuộc chính phủ trung ương Trùng Khánh. Chu Phúc Thành có thể coi là đối tượng phản động nhất trong hàng ngũ tướng lĩnh của quân đội Tưởng. Chu Phúc Thành khi đến Hà Nội đã nhiều lần điều khiển bọn tay sai tiến hành những hoạt động phá hoại. Có lần, Chu Phúc Thành gửi giấy mời Bác tới. Cán bộ ta tỏ ra lo lắng, bàn với Bác xem có nên đi hay không. Bác cười nói: “Nó đã mời mình, mình cứ tới. Lúc này nó chưa dám làm gì ta đâu!” [4] Bác lên xe đi từ 9 giờ sáng. Quá trưa vẫn chưa thấy Bác về. Chỉ thấy có một đồng chí bảo vệ trở về báo tin Bác vẫn còn ngồi trên gác làm việc với Chu Phúc Thành. Mãi gần 2 giờ chiều, Bác mới về đến nơi, nhưng chiếc xe đưa Bác đi sáng nay đã bị quân Tưởng tịch thu mất. Thì ra Chu Phúc Thành mượn cớ vu oan cho một cán bộ của ta đã bắt chết một Pháp kiều, chúng trắng trợn khẳng định chiếc xe mà hung thủ đã sử dụng chính là xe của Bác. Bác không hề nao núng, bình tĩnh vạch rõ những điểm vô lý trong lập luận của chúng. Chu Phúc Thành đuối lý, chuyển sang trách cứ chính quyền ta không đảm bảo được an ninh trật tự. Sau đó hắn lại phàn nàn chuyện ta không chịu cung cấp đủ số gạo mà hắn đã yêu cầu. Hắn dây dưa hết chuyện này đến chuyện khác chỉ nhằm cố tình gây một bầu không khí căn thẳng. Tuy nhiên, cuối cùng do không có bằng chứng cụ thể, Chu Phúc Thành đành phải kết thúc buổi gặp mà không dám làm gì Bác, tuy nhiên hắn vẫn ngang ngược giữ lại chiếc xe và cả tài xế của Bác. Mãi đến 3 tháng sau hắn mới chịu thả người, còn chiếc xe thì vẫn giữ lại nhất định không trả. Có thể thấy, nếu lúc đó Bác không dám hội kiến, hoặc ứng đối không khéo léo, có lẽ quân Tưởng đã có cớ để làm to chuyện, gây khó khăn cho ta. Thái độ bình tĩnh, nghệ thuật giao tiếp khéo léo và sự hiểu biết sâu sắc về tình thế cách mạng của Bác chính là những yếu tố khiến cho âm mưu của Chu Phúc Thành không thể thành công.

Một điểm thú vị khác là, trong quân đội Tưởng, có nhiều tên chỉ giữ chức vụ thấp nhưng lại có quyền hành và thế lực. Có những tên chỉ nhờ vợ đẹp, có tài tiêm thuốc phiện khéo mà lôi kéo được nhiều tướng lĩnh đến nhà chơi. Chính vì vậy, trong một số trường hợp, những tên này có thể trở thành người môi giới đắc lực cho ta. Một điều rất đặc biệt là không hiểu tại sao Bác thường phát hiện ra rất sớm những tên loại này. Bác chỉ thị cho cán bộ ngoại giao của ta phải có đối sách thích hợp với từng tên. Chính nhờ vậy mà một số vụ xung đột giữa ta và quân Tưởng đã được giải quyết. Có thể thấy, đối với Bác, ngoại giao không phải là một vấn đề chung chung, mà luôn luôn cụ thể. Tùy từng vụ việc, từng đối tượng mà Bác sẽ có những cách ứng biến cụ thể, khôn khéo trên cơ sở "dĩ bất biến ứng vạn biến", lấy cái nguyên tắc cốt lõi là độc lập, tự do để đối phó kẻ thù bằng những sách lược mềm dẻo khác nhau. Những đối sách với Lư Hán, Tiêu Văn, Chu Phúc Thành hay một số đối tượng khác trong quân đội Tưởng đã thể hiện thiên tài ngoại giao của Bác, góp phần hạn chế được sự phá hoại của quân Tưởng và tay sai.

Ngày nay nhìn lại, khi quân Tưởng ồ ạt kéo vào miền Bắc nước ta với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật, sức mạnh đoàn kết của quần chúng nhân dân cùng với tài ngoại giao khéo léo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bước đầu làm thất bại âm mưu của chúng. Hòa hoãn được với quân đội Tưởng, chính quyền cách mạng non trẻ của ta đã tranh thủ được thời gian, không ngừng củng cố, đồng thời ta còn có thể tạm biến quân Tưởng trở thành một bức tường rào để ngăn quân Pháp quay trở lại miền Bắc. Sau khi quân Pháp mở rộng chiến tranh và mở rộng phạm vi chiếm đóng ở Nam bộ và Nam Trung bộ, tình hình bắt đầu có sự chuyển biến mau lẹ. Chính phủ Pháp và Tưởng Giới Thạch đã họp mặt ở Trùng Khánh (Trung Quốc) để ngã giá lẫn nhau. Kết quả, Tưởng Giới Thạch đồng ý để Pháp thay thế làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật tại miền Bắc. Đổi lại, Pháp sẽ nhượng lại cho chính quyền Tưởng Giới Thạch một số quyền lợi về kinh tế, chính trị khác. Đứng trước sự biến động của tình hình, Đảng và Chính phủ ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã lập tức thay đổi phương châm đấu tranh, chuyển sang hòa hoãn với Chính phủ Pháp để đuổi quân Tưởng về nước, bằng cách ký kết các Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) và Tạm ước (14/9/1946). Không còn lý do gì để dây dưa thêm nữa, quân Tưởng đành phải rút khỏi nước ta. Cuộc rút quân kéo dài đến tận ngày 18/9/1946 mới kết thúc.

Đuổi được 18 vạn quân của Tưởng Giới Thạch về nước, có thể nói ta đã trút đi được một gánh nặng khổng lồ cả về vật chất lẫn tinh thần. Có được kỳ tích đó là do sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc, hội tụ trong sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng ta. Tuy nhiên đóng góp vào thắng lợi ấy cũng không thể không kể đến tài ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phong cách ngoại giao của Bác luôn thể hiện tầm vóc vĩ đại, trí tuệ lớn lao và tình cảm sâu sắc với Tổ quốc, với nhân dân. Với thiên tài ngoại giao của Bác, trong bối cảnh đất nước "ngàn cân treo sợi tóc", con thuyền cách mạng Việt Nam vẫn vững vàng, khéo léo lách qua những thác ghềnh nguy hiểm để tiến tới thành công./.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bảo tàng Hồ Chí Minh (2011), Đồng chí Vũ Kỳ - thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên, HN.

2. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2017), Những vấn đề cơ bản về Đảng Cộng sản và Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, HN.

3. Võ Nguyên Giáp (2008), Tổng tập hồi ký, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội.



[1] Võ Nguyên Giáp (2008), Tổng tập hồi ký, Nxb. Quân đội nhân dân, HN, tr 170.

[2] Võ Nguyên Giáp, sđd, tr 174.

[3] Võ Nguyên Giáp, sđd, tr 191.

[4] Võ Nguyên Giáp, sđd, tr 197.

 

Joomla inotur picma