VÀI NÉT TRONG TƯ TƯỞNG MỸ HỌC CỦA ARISTOTLE

Email In PDF.

VÀI NÉT TRONG TƯ TƯỞNG MỸ HỌC CỦA ARISTOTLE

ThS. Đặng Thị Ánh Tuyết

GV Khoa Xây dựng Đảng

Dòng lịch sử tư tưởng phương Tây được khởi đầu từ Hy Lạp cổ đại – một vùng đất bao gồm miền Nam bán đảo Balkan, nhiều hòn đảo ở biển Aegea và ven biển của bán đảo Tiểu Á. Milet là một thành phố lớn của Hy Lạp cổ đại thuộc vùng bờ biển phía tây miền Ionia bên Tiểu Á – từng là điểm giao thương đường biển nên cũng là nơi hội tụ các luồng tư tưởng trên thế giới. Sự giàu có và nếp sống an nhàn của cư dân thành phố này làm cho hoạt động nghệ thuật và triết học phát triển.

Tư tưởng mỹ học cổ đại được hình thành vào khoảng thế kỷ IX (trước công nguyên), phát triển rực rỡ vào cuối thế kỷ VI (trước công nguyên), đạt đến độ cực thịnh vào thế kỷ IV trước công nguyên, sau đó thoái trào và kết thúc vào đầu thế kỷ thứ VI sau công nguyên.

Đời sống văn hóa nghệ thuật của người Hy Lạp cổ đại cũng có sự phát triển rực rỡ, các tác phẩm bất hủ như Iliát và Ođixê (Hôme), các vở kịch Ôrexti, Prômêtê bị xiềng xích (Étsin), Ơđíp vua, Ăng ti gôn (Xô phốc), Mêđê (Ơripít), các vở hài kịch của Arixtôphan; các công trình kiến trúc nổi tiếng như đền thờ thần Áctemít (ở thành phố Êphez), đền Atena và quần thể kiến trúc Aùcrôpôl, đền Pác ten ông (Phi đi và Ictinus); các tác phẩm điêu khắc mẫu mực như tượng khổng lồ Atena cao 10 mét, tượng Đê tê mê, tượng thần Zớt (Phiđi) Héc mét, Vệ nữ Cnidơ, Vệ nữ Áccli, các tượng Apôlông (Praxichen)…với những tác phẩm hoàn mỹ như vậy, nghệ thuật của người Hy Lạp cổ đại đến ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị mẫu mực của nó. Vì vậy nó buộc các nhà tư tưởng thời bấy giờ phải lưu tâm nghiên cứu, đánh giá, nhận xét về chúng, tư tưởng mỹ học Hy Lạp cổ đại hình thành từ đó.

Dựa trên cơ sở triết học, mỹ học thời kì Hy lạp - La mã cũng hình thành và phát triển cùng với triết học. Các triết gia cũng chính là nhà mỹ học, vì vậy mà các quan điểm mỹ học của họ đều có cơ sở từ chính hệ thống triết học của mình. Một số triết gia tiêu biểu đó là Pithagos, Heraclitus, Democritus, Socrates, Platon, Aristotle.

Trong đó Aristotle (384 - 322 TCN), Ông là đại biểu lớn nhất trong số các nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại, người phê phán kịch liệt Platôn. Aristotle tuyên bố rằng: “Đối với tôi cả Plato và chân lý đều quý giá, nhưng vì sự thật tôi yêu chân lý hơn[1]. Ông giao động giữa 2 dòng duy tâm và duy vật, nhưng do không nghi ngờ gì về tính hiện thực của thế giới xung quanh nên những tư tưởng mỹ học của ông mang xu hướng duy vật.

Thứ nhất, quan niệm của Aristotle về cái Đẹp

Ông phân biệt cái “mỹ” và cái “thiện”, cái đẹp phát triển không lệ thuộc vào cái thiện mặc dù giữa chúng có sự tác động qua lại lẫn nhau. Ông đưa ra lập luận rất đơn giản: thiện thì đã có trong hành vi, còn cái đẹp thì ở trong sự vật khách quan.

Cái Đẹp - theo quan điểm của ông - là một thực thể vật chất bao gồm trật tự, tỷ lệ, kích thước và sự cảm nhận. Trong tác phẩm nổi tiếng Nghệ thuật thơ ca, ông viết: Cái đẹp – kể cả động vật hay bất kỳ đồ vật gì gồm những phần nhất định hợp thành, nó không những cần có sự sắp xếp mà còn có một kích thước nhất định. Cái đẹp là ở trong kích thước và trật tự, do đó, một vật quá bé không thể trở thành đẹp, vì thoắt nhìn đã qua, không kịp thu nhận; một vật quá lớn cũng không thể trở thành đẹp, vì một lúc không thể nhìn bao quát vật đó ngay được, tính nhất trí và tính hoàn chỉnh bị mất đi bởi người nhận nó. Như vậy, theo Aristotle, cái đẹp không nằm ngoài sự vật, không nằm ngoài kích thước, tỷ lệ, trật tự, sự cân đối và khả năng cảm nhận nó trong tính hoàn chỉnh. Nghĩa là từ cái đẹp thực tại đã hình thành ý muốn về cái Đẹp. Cái Đẹp chỉ có thể xác lập tính khách quan trong mối tương quan với sự cảm thụ của con người. Quan niệm này tiếp cận gần với đường lối mô tả hiện thực của Democritus.

Khi Aristotle thừa nhận một hiện tượng đẹp thống nhất giữa hình thức và vật chất tạo ra một ấn tượng trong cảm quan của con người thì luận điểm ấy khác hẳn với cái đẹp là một ý niệm của Plato. Plato cho rằng, cái chung tách khỏi cái cá biệt, còn Aristole còn tìm tòi mối liên hệ biện chứng giữa tri giác, cảm giác, ghi lại những cái cá biệt. Đây là những tìm tòi một cách tự phát mối liên hệ giữa đối tượng thẩm mỹ và các giai đoạn của quá trình nhận thức thẩm mỹ.

Thứ hai, quan điểm của Aristotle về Nghệ thuật

Ông khẳng định chức năng phản ánh hiện – tái hiện thực tại và giá trị nhận thức của nghệ thuật và tin rằng các hình thức phổ biến chỉ tồn tại ở những sự vật cụ thể. Vì thế các nghệ sĩ đã trực tiếp đối diện với cái phổ biến khi nghiên cứu các sự vật và chuyển tải chúng trong những hình thức nghệ thuật. Nghệ thuật trở thành phương tiện truyền đạt cái phổ biến.

Trong Thi pháp, Ông nhấn mạnh khía cạnh nhận thức của thi ca bằng cách đặt nó trong sự tương phản với lịch sử. Ông đưa ra học thuyết bắt chước mà ông xem là nguyên tắc đầu tiên để tìm hiểu cấu trúc nội dung của các thể loại của nghệ thuật thi ca.

Aristotle cho rằng: “Sử thi, bi kịch, cũng như hài kịch và thơ ca ca tụng tửu thần, đại bộ phận nhạc sáo, nhạc đàn lục huyền – tất cả những thứ đó nói chung là những nghệ thuật bắt chước. Bắt chước dường như có hai nguyên nhân, hơn nữa là hai nguyên nhân tự nhiên đã làm nảy sinh ra nghệ thuật thơ ca. Thứ nhất sự bắt chước vốn sẵn có ở con người từ thuở nhỏ và con người khác với động vật ở chỗ họ có tài bắt chước”[2].

Ông cho rằng mọi nghệ thuật đều là mô phỏng, nhưng mỗi loại nghệ thuật đều có cách mô phỏng khác nhau và mang lại thụ cảm thẩm mỹ khác nhau cho con người. Chúng khác nhau về ba phương diện: phương tiện, đối tượng, kiểu hay cách thức mô phỏng.

Thứ ba, quan niệm của Aristotle về Bi kịch

Đối lập với Platon, Aristotle đánh giá cao bi kịch, nhấn mạnh tác dụng nhận thức, tác dụng giáo dục đạo đức và thẩm mỹ của nó. Ông cho rằng, bi kịch là đỉnh cao nhất của nghệ thuật. Ông nêu rõ bản chất tổng hợp của bi kịch với tính cách là loại nghệ thuật trong đó những phương tiện sân khấu được kết hợp với sức truyền cảm thấm thía của âm nhạc và của những loại nghệ thuật khác. Ông cho rằng, do bản chất nghệ thuật của nó mà bi kịch có một sức tác động đặc biệt sâu sắc về mặt thẩm mỹ và đạo đức.

Theo ông,“bi kịch không phải là sự bắt chước những con người, mà là sự bắt chước hành động và cuộc sống, hạnh phúc và bất hạnh. Bi kịch tái hiện quá trình của con người từ hạnh phúc lâm vào bất hạnh. Vạch rõ những tính chất đặc thù của bi kịch, Aristotle viết: Bi kịch là sự bắt chước chẳng những một hành động hoàn chỉnh mà cả một hành động khủng khiếp và đáng thương hại nữa, nhưng hành động xảy ra khi (nó bất ngờ), …”[3].

Bi kịch mô phỏng con người đang hành động. Sự mô phỏng hành động là nhờ vào cốt truyện. Hành động và cốt truyện làm nên mục đích của bi kịch. Cốt truyện là cơ sở là linh hồn của bi kịch, sau đó mới đến các tính cách.

Thứ tư, quan niệm của Aristotle về Hài kịch

Hài kịch là sự tái hiện những người xấu nhất tuy không có nghĩa hoàn toàn độc ác mà chỉ có nghĩa là đáng cười. Tư tưởng gắn cái xấu với cái hài, gắn cái hài và tiếng cười là một tư tưởng lớn mà Aristotle đã khái quát được những nét bản chất nhất trong các tác phẩm của nhà hài kịch nổi tiếng thời cổ đại Hy Lạp.

Như vậy, cùng với hai tiền bối là Socrates và Platon, thì Aristotle là một trong ba trụ cột của văn minh Hy Lạp cổ đại, là những người đặt nền móng cho triết học cũng như mỹ học phương Tây. Trên cơ sở những tư tưởng về Triết học, thì tư tưởng Mỹ học của ông thấm nhuần ý nghĩa nhân bản cao cả bên cạnh tính duy vật sâu sắc. Đó là quan điểm về Cái đẹp, về Nghệ thuật, ngoài ra Aristotle còn nhấn mạnh trong tư tưởng mỹ học của mình là Bi kịch và Hài kịch cho đến ngày nay còn nguyên giá trị./.



[1] PGS,TS. Nguyễn Văn Huyên (chủ biên), Giáo trình Mỹ học đại cương, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.12.

[2] Aristotes, Nghệ thuật thơ ca, Nxb. Văn hóa – Nghệ thuật, Hà Nội, 1964, tr32,41.

[3] H. X. N (người dịch), Những phạm trù Mỹ học cơ bản của Iu. B.Bô – rép, Khoa Ngữ Văn – trường Đại học Tổng hợp, 1947, tr.56

 

Joomla inotur picma