CẠNH TRANH ĐÔ THỊ - TIÊU CHÍ VÀ NHỮNG ĐỀ XUẤT

Email In PDF.

CẠNH TRANH ĐÔ THỊ - TIÊU CHÍ VÀ NHỮNG ĐỀ XUẤT

ThS. Đàm Xuân Tùng

Phó Hiệu trưởng

Theo Ngân hàng thế giới (WB), một đô thị phát triển bền vững trong cơ chế thị trường cần đảm bảo bốn tiêu chí là: cạnh tranh tốt, cuộc sống tốt, tài chính lành mạnh và quản lý tốt. Trong đó, cạnh tranh tốt là yếu tố rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường; tài chính lành mạnh có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển ổn định và bền vững; quản lý tốt là hoạt động điều hành đô thị hiệu quả.

1. Cạnh tranh là cơ chế vận hành cơ bản của nền kinh tế thị trường, được thúc đẩy mạnh mẽ trong xu thế toàn cầu hóa và mở cửa hợp tác. Trong thời kỳ đổi mới đất nước, không chỉ có các doanh nghiệp phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển, mà các đô thị cũng cạnh tranh để thu hút nhiều vốn đầu tư, công nghệ tiên tiến để đổi mới, phát triển đô thị. Cạnh tranh là động lực quan trọng để thị trường, các doanh nghiệp và chính quyền hoạt động một cách hiệu quả.

Cạnh tranh đô thị diễn ra trên bình diện quốc gia hoặc quốc tế giữa các đô thị, vùng đô thị và xuất hiện khá sớm, trong mỗi thời kỳ khác nhau cũng khác nhau. Thời cổ đại, thể chế dân chủ ở Hy Lạp đã tạo điều kiện để các đô thị cạnh tranh trên một mặt bằng hay cạnh tranh theo nhóm lớn có quy mô tương đương (cạnh tranh theo quy mô). Quy mô tương đồng và nền quản trị như một quốc gia cho phép các chính quyền đô thị được bầu ra có quyền lực rất lớn đối với đô thị đó. Trước thế kỷ 19 - thời kỳ tiền công nghiệp, cạnh tranh không có chủ ý của quản lý mà cạnh tranh mang tầm quốc gia gắn với yếu tố địa chính trị và địa kinh tế. Lựa chọn phát triển vùng để khai thác tài nguyên (trong đó có đô thị làm hạt nhân) là cơ sở để cạnh tranh và chiếm đóng các thuộc địa. Đồng thời sự cạnh tranh về thương mại và địa chính trị song hành với quá trình công nghiệp hóa và hình thành các vùng đô thị có tính đa dạng hóa trong sản xuất, tiêu thụ và sáng tạo. Giữa thế kỷ 20, nghiên cứu về mô hình “Lối thoát” của Tiebout cho thấy các đô thị ở Mỹ đã bước vào cạnh tranh khá sớm bằng sự thích ứng và cạnh tranh chất lượng quản trị địa phương ở các hạt/đô thị khác nhau. Sự tự chủ về tài chính và xây dựng chính sách phát triển riêng theo đặc điểm địa phương làm cho chính quyền đô thị ở Mỹ có nhiều lợi thế để cạnh tranh hơn. Văn hóa cởi mở, di cư tự do, luật pháp rõ ràng thúc đẩy các đô thị phải cạnh tranh vốn và lao động với nhau. Ở châu Âu, sau khi liên minh châu Âu (EU) hình thành cuối thế kỷ XX, cạnh tranh đô thị có đặc điểm riêng là cạnh tranh cả trên phương diện kinh tế và phi kinh tế do Ủy ban châu Âu có những chính sách hỗ trợ theo vùng. Sự hợp nhất về kinh tế ở châu Âu khiến các đô thị nhỏ mất lợi thế về quy mô và họ phải cạnh tranh mạnh hơn thông qua các chính sách thu hút riêng. Đối với các quốc gia đang phát triển và công nghiệp mới, cạnh tranh đô thị cũng có những điểm đặc thù, chẳng hạn những quốc gia công nghiệp mới nổi (Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Trung Quốc…) đã thực thi chiến lược cạnh tranh mang tính quốc gia để thu hút vốn quốc tế, phát triển các trung tâm công nghiệp và đô thị định hướng xuất khẩu: Ví dụ Hàn Quốc nhờ có chiến lược cạnh tranh quốc gia sớm đã làm nên thương hiệu Seoul, Busan…; tiếp đến là Trung Quốc với các thương hiệu như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Thâm Quyến…

Như vậy, cạnh tranh đô thị là tất yếu trong nền kinh tế thị trường để hấp dẫn đầu tư, chất xám, nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng quản trị, để tạo ra các đô thị có thương hiệu. Các đô thị cạnh tranh với nhau theo tầm cỡ, theo khu vực, theo thế mạnh và theo từng quốc gia.

2. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là các đô thị cạnh tranh với nhau theo những tiêu chí như thế nào. Đây là vấn đề cần được xem xét kỹ và nghiên cứu thấu đáo để có định hướng quy hoạch, xây dựng và phát triển đô thị nâng cao khả năng cạnh tranh, thu hút.

Theo nhiều nghiên cứu, các đô thị cạnh tranh với nhau trên nhiều mặt, nhiều góc độ, lĩnh vực tùy thuộc vào quốc gia, vùng kinh tế, khu vực. Ở Mỹ, 50 vùng đô thị lớn nhất cạnh tranh với nhau theo các tiêu chí là quản trị và chính sách tài chính, an ninh, hạ tầng cơ sở, nguồn nhân lực, công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp, tính cởi mở, chính sách môi trường. Quy mô dân số lớn hay nhỏ cũng là tiêu chí để cạnh tranh, tuy nhiên đây chỉ là một điều kiện, sức cạnh tranh lớn luôn gắn với sức mạnh kinh tế tuyệt đối bao gồm cả sức sản xuất và sức tiêu thụ (nếu căn cứ theo các tiêu chí này thì New York, London, Pari, Tokyo luôn đứng hàng đầu).

Sự cạnh tranh không chỉ đến từ góc độ kinh tế, mà còn cạnh tranh về sức lan tỏa, về sự sáng tạo và tầm ảnh hưởng về chính trị, văn hóa… Các đô thị nhỏ cũng có tính cạnh tranh nhưng là cạnh tranh về tính đặc thù, cạnh tranh trên thế mạnh, lợi thế so sánh (nếu tính theo tiêu chí về sự lan tỏa trong tính sáng tạo và thu nhập thì California và Boston (Mỹ), Oxford và Cambridge (Anh), Hyderabad và Bangarlore (Ấn Độ) xứng đáng ở vị trí hàng đầu).

Giữa các đô thị còn cạnh tranh với nhau theo tầng bậc và cấp loại. Việc phân loại tầng bậc có thể dựa trên các tiêu chí như mạng lưới hàng không, cung cấp dịch vụ cao hay quy mô dân số. Năm 1999, Beaverstock đã chia các đô thị tầm cỡ thế giới thành 3 nhóm: alpha, betta và gammar theo các tiêu chí là hoạt động tài chính, kinh doanh, ảnh hưởng về sức mạnh kinh tế cho đến sáng tạo giá trị, văn hóa và du lịch (nếu dựa theo những tiêu chí này thì New York, London, Pari, Tokyo thuộc nhóm dẫn đầu), trong đó nhóm dẫn đầu sẽ cạnh tranh trên tất cả các mặt, các nhóm sau thì cạnh tranh về một số lĩnh vực – đặc biệt là du lịch (quan điểm này được nhiều học giả đồng ý)

Cạnh tranh đô thị còn là cuộc cạnh tranh về chất lượng sống hay thực chất là chất lượng quản lý. Chất lượng quản lý đô thị trở thành tiêu chí cạnh tranh được đánh giá từ những năm 1970, phát triển trong thập kỷ 80 tại Mỹ và Anh. Đến những năm 90 thương hiệu đô thị đã là một sản phẩm không thể thiếu để thu hút các nhà đầu tư. Và từ cuối thập niên 90 đến nay, cạnh tranh đô thị là quá trình kiện toàn những phẩm chất bên trong để cư dân đô thị có chất lượng sống tốt hơn, bền vững hơn và sự hấp dẫn của chính nó sẽ thu hút vốn, lao động và phát triển kinh tế.

Việc đánh giá cạnh tranh đô thị theo chất lượng sống đã được nhiều tổ chức nghiên cứu, điển hình là Cơ quan định cự con người – Liên Hiệp quốc (UN-Habitat), năm 2004, đã đưa ra bộ chỉ số đô thị gồm 20 chỉ tiêu cơ bản và 13 chỉ tiêu mở rộng để đánh giá các lĩnh vực trong quản lý định cư gồm 5 lĩnh vực: nhà ở, phát triển xã hội và giảm nghèo, quản lý môi trường, phát triển kinh tế và quản trị đô thị. Để đánh giá toàn diện chất lượng cuộc sống ở các đô thị, Công ty chuyên nghiên cứu và đánh giá chất lượng nơi sống của các nước trên thế giới (Merce) đã sử dụng 10 nhóm chỉ tiêu gồm: (1) môi trường chính trị và xã hội (ổn định chính trị, tội phạm và cưỡng chế pháp luật); (2) môi trường kinh tế (quy định về ngoại hối, ngân hàng, dịch vụ); (3) môi trường văn hóa - xã hội (mức độ kiểm duyệt, hạn chế tự do cá nhân); (4) sức khỏe và vệ sinh (dịch vụ y tế, bệnh truyền nhiễm, hệ thống thoát nước và quản lý chất thải rắn); (5) trường học và giáo dục (tiêu chuẩn và sự sẵn có của các trường quốc tế); (6) chất lượng dịch vụ công và giao thông (điện, nước, giao thông công cộng và tắc ngẽn giao thông); (7) giải trí nghỉ ngơi (nhà hàng, rạp chiếu bóng, rạp hát, thể thao và giải trí); (8) các hàng tiêu dùng (sự sẵn có và đa dạng của thực phẩm, các hàng hóa thông thường, xe hơi); (9) nhà ở (nhà cửa, đồ nội thất, thiết bị gắn kèm, bảo trì); (10) chất lượng môi trường tự nhiên (khí hậu, thảm họa tự nhiên).

Ở Việt Nam, trên thực tế mặc dù chưa có hệ thống đánh giá theo chuẩn mức; nhưng chúng ta cũng đang có những chỉ tiêu thống kê và một số chuẩn mực định hướng cho cạnh tranh như hệ thống đánh giá về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI (Provincial Competitiveness Index), đánh giá chất lượng dịch vụ công cấp tỉnh PAPI (Public Administration Performence Index) và Bộ chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người dân SYPAS do Bộ Nội vụ xây dựng…

Có thể nói các chỉ tiêu trên là đa dạng; tuy nhiên để sử dụng các tiêu chí, quy chuẩn này giúp chính quyền ưu tiên định hướng đầu tư và thay đổi cần xây dựng hệ thống các tiêu chí và chỉ số có tính phổ quát có thể so sánh được, phản ánh đúng vấn đề cần đo và có độ tin cậy cao.

3. Cần làm gì để nâng cao năng lực cạnh tranh đô thị thu hút đầu tư, du lịch, phát triển kinh tế - xã hội.

Trong cuốn sách “Các thành phố ECO2 – Các đô thị sinh thái kiêm kinh tế” do Ngân hàng thế giới (WB) xuất bản năm 2010, có đoạn viết: “Quá trình chuyển đổi đô thị tại Việt Nam có sự trùng hợp lớn trong quan điểm toàn cầu về phát triển đô thị. Theo quan điểm ngày nay, bền vững sinh thái và bền vững kinh tế phải đi cùng nhau… Việt Nam có lợi thế lớn để tăng trưởng một cách thông minh hơn và tốt hơn bằng việc áp dụng một số chiến lược có tác động mạnh, đồng thời tránh những sai lầm, tốn kém mà nhiều nước khác đã phạm phải”. Như vậy, xây dựng, phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh đô thị cần phải có chiến lược. Trong chiến lược ấy cần chú ý nội dung sau:

Một là, cần xác định và xây dựng thương hiệu, hình ảnh đô thị.

Thương hiệu đô thị có thể hiểu là các đặc trưng độc đáo của đô thị nhằm giúp công chúng nhận dạng được đô thị và liên tưởng được đến những mặt tốt đẹp của chúng. Do đó, khi lựa chọn thương hiệu đô thị phải nêu bật được các đặc trưng độc đáo của đô thị. Thương hiệu đô thị được hình thành theo hai cách: hình thành dẫn trong lịch sử như Sài Gòn là “Hòn ngọc Viễn Đông” và hình thành có dụng ý chiến lược như Hà Nội là “Thành phố hòa bình”.

Sau khi xác định được thương hiệu đô thị cần tạo thương hiệu đô thị. Đây là quá trình truyền bá hình ảnh đô thị đến công chúng trong và ngoài đô thị như khách tham quan, người sinh sống làm việc tại chỗ, khối kinh doanh và công nghiệp xuất khẩu thông qua các thông tin, ký hiệu và biểu trưng (logo) nhằm thu hút mối quan tâm và sự ưa chuộng đối với đô thị, ví dụ như Đà Nẵng được mọi người biết đến với thương hiệu là “Thành phố 5 không, 3 có và 4 an”, Edingburgh thủ phủ của Scotland có thương hiệu là “Thủ đô tạo cảm hứng”, Hàng Châu xây dựng thương hiệu “Thành phố có cuộc sống chất lượng” với 4 tiêu chí là: “Du lịch Hàng Châu, Ở Hàng Châu, Lập nghiệp tại Hàng Châu, Học tại Hàng Châu”.

Thương hiệu đô thị gắn liền, không tách rời với hình ảnh đô thị, tức là cảm nhận của mọi người với những đặc trưng vật thể và phi vật thể của đô thị. Có thể nói hình ảnh đô thị “là xe chở” thương hiệu đô thị, nhờ nó mà thương hiệu đô thị được nhận dạng và lan truyền rộng rãi. Còn thương hiệu phải thể hiện được bộ phận hình ảnh đặc sắc của đô thị để tăng hiệu ứng nhận dạng.

Tóm lại, thương hiệu và hình ảnh đô thị chính là những nhận thức, đánh giá của công chúng trong và ngoài đô thị đã được khái quát hóa, trừu tượng hóa đối với môi trường tự nhiên, kinh tế, văn hóa, lịch sử và “nguồn vốn xã hội” của đô thị như thái độ thân thiện, tính thật thà của dân cư đô thị. Không chỉ là cảm nhận của dân chúng, thương hiệu, hình ảnh đô thị còn phản ánh xu thế, chiến lược phát triển đô thị của lãnh đạo, dân cư đô thị. Mục đích xây dựng thương hiệu, hình ảnh đô thị là nhằm: tăng cường thu hút doanh nghiệp và vốn đầu tư; quảng bá, phát triển du lịch; xúc tiến quan hệ đối ngoại; tăng cường cảm nhận nơi chốn, cảm nhận quy thuộc, cảm nhận cộng đồng và niềm tự hào của người dân đô thị.

Hai là, gắn xây dựng hình ảnh đô thị với quy hoạch, kiến trúc đô thị và vận hành đô thị

Thực tế đã, đang xảy ra tình trạng, nhiều nơi hình ảnh đô thị chỉ được chú trọng trên mặt bằng mà không được nghiên cứu kỹ trong không gian 3 chiều, kiến trúc đô thị chỉ chú tâm đến từng công trình riêng lẻ mà ít quan tâm đến cả quần thể công trình, hay của cả con đường, thành phố. Hậu quả, là đô thị thiếu “điểm nhấn” (địa tiêu), đường phố đơn điệu, công trình di sản bị hoang phế, khu vực cổng chào ra vào thành phố không có vẻ gì thân thiện, đón chào. Nhiều đường phố không có tên, đánh số nhà hỗn loạn, ký hiệu giao thông sơ sài, thậm chí không tồn tại… Hình ảnh đô thị còn được nhận diện qua không gian đô thị bằng thị giác với 5 yếu tố là: Lối đi (Paths) như đường phố, vỉa hè, lối mòn và các lối đi khác; Mép ngoài (Edges) để nhận diện đường biên như tường rào, mặt nhà, mép nước; Khu vực (Districts) có bản sắc; Nút (Nodes) tụ điểm, điểm giao cắt hoặc vị trí; Địa tiêu (Land Marks) dễ nhận biết để định hướng (Theo Kevin A.Lynch (1918-1984) nhà Quy hoạch kiến trúc nổi tiếng Hoa Kỳ). Vì vậy, xây dựng thương hiệu, hình ảnh đô thị phải gắn với quy hoạch, kiến trúc đô thị.

Bên cạnh đó, thương hiệu, hình ảnh đô thị cũng gắn chặt với việc vận hành hay quản lý đô thị. Quản lý đô thị để cạnh tranh chính là tự hoàn thiện cách thức quản lý huy động và sử dụng nguồn lực; tìm ra sự khác biệt và sáng tạo để phát huy tốt nhất lợi thế sẵn có và thu hút các nguồn lực “động” để có được khách hàng và vị thế tốt hơn trên các “sân chơi” trong nước và quốc tế. Sự hoàn thiện ở đây không đơn giản chỉ tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động, mà tạo điều kiện để cư dân có cuộc sống tốt hơn, đáng sống hơn, bảo vệ và gia tăng giá trị “tài sản đô thị”…

         

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. ThS. Phạm Thị Thu Hiền: Luận bàn về vấn đề cạnh tranh đô thị tại Việt Nam, Tạp chí Xây dựng và Đô thị, số 32, năm 2013.

2. TS. Nguyễn Ngọc Hiếu: Cạnh tranh đô thị, Tạp chí Quy hoạch đô thị, số 12, năm 2012.

3. TS. Nguyễn Ngọc Hiếu: Tiếp cận cạnh tranh trong chiến lược phát triển huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, Tạp chí Quy hoạch đô thị, số 17, năm 2014.

4. TS. Phạm Sỹ Liêm: Xây dựng thương hiệu đô thị để tăng cường năng lực cạnh tranh đô thị, Tạp chí Kiến trúc Việt Nam, số 6/2014

5. Khánh Phương: Đô thị thân thiện: Những khía cạnh cần quan tâm, Báo Xây dựng ngày 30/12/2015.

 

 

Joomla inotur picma