XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở NƯỚC TA NHỮNG NĂM ĐẦU KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP 1946 - 1949

Email In PDF.

XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở NƯỚC TA NHỮNG NĂM ĐẦU KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP 1946 - 1949

ThS. Trần Ngọc Sáng

Khoa Xây dựng Đảng

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ đã phải ngay lập tức đương đầu với hàng loạt thử thách hiểm nghèo tưởng chừng khó có thể vượt qua; đây là giai đoạn đầu tiên xây dựng chế độ kinh tế mới ở Việt Nam và cũng là giai đoạn khó khăn nhất. Giặc đói, giặc dốt đặc biệt giặc ngoại xâm, cả ba thứ giặc đều là những kẻ thù nguy hiểm đối với chính quyền cách mạng vừa mới ra đời. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, con thuyền cách mạng nước ta vẫn khéo léo lách qua những mỏm đá thác ghềnh để lướt tới. Với những phong trào "tăng gia sản xuất", "bình dân học vụ", giặc đói, giặc dốt dần bị đẩy lùi. Đất nước ta đã dần thoát khỏi tình cảnh "ngàn cân treo sợi tóc" để bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ với kẻ thù xâm lược.

Thực dân Pháp có rất nhiều kinh nghiệm trong tiến hành chiến tranh xâm lược thuộc địa. Có thể nói, cuộc chiến tranh xâm lược không chỉ gói gọn trong các hoạt động quân sự, chính trị mà thực sự là một cuộc chiến toàn diện trên tất cả các lĩnh vực về kinh tế, văn hóa, xã hội... Trong đó, tấn công trên lĩnh vực kinh tế là một trong những mũi tấn công vô cùng quan trọng, thể hiện âm mưu thâm độc, thủ đoạn tàn bạo của kẻ thù. Bởi một khi nền kinh tế của ta bị bóp nghẹt thì cuộc kháng chiến của nhân dân ta sẽ không thể tiếp tục duy trì lâu dài. Chính vì vậy, ngay từ khi chiến tranh mới nổ ra, thực dân Pháp đã tiến hành hàng loạt các biện pháp để phá hoại đất nước ta về kinh tế.

Các hải cảng, sân bay, các tuyến đường giao thông quan trọng, cửa khẩu biên giới... đều bị phong tỏa. Những thành phố lớn, vốn là những trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế... của ta lần lượt bị chiếm đóng. Những khu vực giàu tài nguyên khoáng sản như mỏ than ở Hòn Gai, vùng đồn điền cao su ở Đông Nam bộ, các vùng sản xuất lúa gạo lớn như đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long đều bị bao vây, khống chế. Trong những trận càn quét, ngoài việc lùng tìm bộ đội, du kích và cơ quan kháng chiến, địch còn ra sức đốt phá lương thực, phá hoại mùa màng, giết trâu bò để phá hoại tiềm lực sản xuất của ta. Chúng đánh giá bắn được một con trâu như diệt được hai du kích. Chúng dùng đại bác, máy bay bắn phá trên những cánh đồng, dùng xe lội nước cày nát những ruộng lúa sắp đi vào vụ gặt. Dã man hơn, chúng còn tiến hành phá các đê điều, đập nước để phá hoại sản xuất của ta. Không chỉ có vậy, chúng còn tìm mọi cách đưa hàng hóa xa xỉ phẩm (thuốc lá, rượu...) từ vùng tạm chiếm ra vùng tự do để lũng đoạn kinh tế của ta, đồng thời tăng cường bao vây chặt chẽ, quyết không để lọt ra ngoài những mặt hàng thiết yếu như lương thực, thuốc men hay những hàng hóa phục vụ cho công nghiệp quốc phòng.

Ngay từ khi trở lại xâm lược nước ta, thực dân Pháp cũng kiên quyết tấn công ta về mặt tài chính, tiền tệ. Do vẫn còn khống chế được Ngân hàng Đông Dương, chúng tuyên bố hủy bỏ tờ bạc 500 đồng, tờ bạc có mệnh giá lớn nhất khi ấy, khiến cho ta bị mất trắng một số tiền lớn. Trước khi tiến công căn cứ địa Việt Bắc năm 1947, chúng lại dùng thủ đoạn tương tự, tuyên bố phải đổi mới hết những tờ bạc 100 đồng trong vòng một tháng. Cách làm này của thực dân Pháp đã khiến cho ta không thể mua được ở vùng địch tạm chiếm những mặt hàng thiết yếu cho kháng chiến.

Để tiến hành kháng chiến lâu dài với kẻ thù mạnh hơn gấp nhiều lần, ta đã chủ trương phá hoại những tuyến đường giao thông, những thành phố, thị xã để làm chậm những mũi tiến công của quân địch, cản trở chúng nhanh chóng mở rộng phạm vi chiếm đóng. Tuy nhiên, điều này cũng tác động rất tiêu cực đến công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của ta. Thêm vào đó, do ảnh hưởng của chiến sự, những làn sóng người tản cư đã làm cho môi trường sản xuất bị xáo trộn. Tâm lý hoang mang lo lắng khiến nhiều người dù có vốn cũng không dám đầu tư vì sợ chiến tranh lan tới...

Những khó khăn, thử thách đó đặt ra bài toán vô cùng khó khăn đối với Đảng và Chính phủ ta. Muốn giành thắng lợi trước kẻ thù xâm lược, không phải chỉ bằng những thắng lợi trên mặt trận chính trị, quân sự, mà còn cần phải chiến thắng cả trên những mặt trận khác, trong đó kinh tế là một lĩnh vực chủ đạo. Nếu không có một nền tảng kinh tế vững chắc, cuộc kháng chiến trường kỳ của nhân dân ta không thể đi đến thắng lợi. Chính vì vậy, xây dựng, phát triển nền kinh tế lúc bấy giờ là một nội dung cực kỳ quan trọng, được Đảng và Chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt quan tâm.

Với tinh thần "vừa kháng chiến vừa kiến quốc", Đảng và Chính phủ ta đã có những biện pháp quyết liệt và đúng đắn để xây dựng và phát triển nền kinh tế trong bối cảnh chiến tranh ngày càng lan rộng và ác liệt.

Trước hết, ta chủ trương ngoài việc xây dựng Việt Bắc là căn cứ địa chính của cả nước, cần phải xúc tiến việc xây dựng hậu phương thứ hai ở vùng Thanh Nghệ Tĩnh, một khu vực đông dân và giàu tài nguyên. Những cán bộ cốt cán, giàu năng lực và uy tín đã được điều đến đây để công tác (như các đồng chí Đặng Thai Mai, Tố Hữu, Đặng Việt Châu...). Ngoài ra, ta cũng coi trọng xây dựng những căn cứ ở quy mô vừa và nhỏ trên những địa bàn chiến lược khác, đặc biệt là những căn cứ ở ngay trong trong vùng địch tạm chiếm.

Địch ra sức phong tỏa và bao vây nền kinh tế của ta, ta đề ra chính sách tự cấp tự túc trong toàn quốc và ở từng địa phương để phục vụ cho kháng chiến lâu dài.

Đối với ngành công nghiệp chế tạo, ta chủ trương phát triển mạnh các ngành nghề thủ công, sử dụng những nguyên liệu sẵn có để đẩy mạnh sản xuất, đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho sinh hoạt, sản xuất và chiến đấu. Địch tìm cách phá hoại các cơ sở công nghiệp, thủ công nghiệp của ta, ta chủ trương thực hiện sản xuất quy mô nhỏ, phân tán. Hình thức này không những có lợi để tránh bị địch ném bom phá hoại mà còn thích hợp với việc huy động vốn của nhân dân khi đó.

Ở những vùng chiến sự, hoàn cảnh buộc ta phải phân tán tiềm lực sản xuất, phá hoại các công trình, các tuyến giao thông, tuy nhiên, ở những nơi chiến sự chưa lan tới, ta vẫn có những chính sách khuyến khích mở chợ, sửa đường, phát triển giao thương để mở rộng sản xuất.

Đối với vấn đề đảm bảo lương thực, Chính phủ ban hành nhiều biện pháp cấp bách như giảm tô, giảm tức, tạm cấp đất vắng chủ cho dân nghèo, cho nông dân vay vốn... Những chính sách đó đã đem lại luồng sinh khí mới cho nông nghiệp nước ta, khiến cho đa số nông dân hết sức phấn khởi.

Chính phủ cũng hết sức chăm lo tu bổ đê điều, đắp đập, khai mương, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về khuyến nông, thâm canh, tăng vụ... Các phong trào động viên toàn dân tăng gia sản xuất được triển khai rộng khắp. Bộ đội, cơ quan, xí nghiệp, trường học đều phải tăng gia sản xuất để tự túc một phần lương thực thực phẩm.

Cùng với việc xây dựng một nền kinh tế tự chủ, ta cũng chủ trương xây dựng một nền tài chính độc lập. Bằng cách phát hành đồng bạc Việt Nam, ta đã loại trừ ảnh hưởng của đồng tiền Đông Dương do Pháp ban hành. Qua ba năm đầu kháng chiến, mặc dù bị chiến trường chia cắt, về cơ bản tiền tệ của nước ta vẫn được thống nhất. Mặc dù không hề có trữ kim và ngoại tệ mạnh bảo đảm, nhưng với tinh thần yêu nước và sự tin tưởng của quần chúng nhân dân, những tờ "giấy bạc Cụ Hồ" vẫn giữ được giá trị ổn định, đảm bảo cho nền kinh tế nước ta vận hành tốt.

Những chính sách đúng đắn của Đảng và Chính phủ ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã đem lại tác dụng to lớn. Dù bị chiến tranh tàn phá, song kinh tế nước ta vẫn đạt được những kết quả rất tích cực và đáng tự hào. Ruộng vườn bị thu hẹp, đất đai bị chia cắt, kẻ thù tăng cường phá hoại, nhưng trong những năm đầu chiến tranh, sản lượng lương thực của ta không hề giảm. Nạn đói không còn diễn ra nghiêm trọng như trước Cách mạng Tháng Tám. Đời sống người dân so với trước kia đã được cải thiện rất nhiều. Những ngành nghề kéo sợi, dệt thủ công, trồng dâu nuôi tằm được phục hồi và phát triển. Chỉ riêng Liên khu 4 trong năm 1949 đã dệt được 12 triệu 812 nghìn mét vải. Liên khu 5 tự túc được về mặc. Các ngành thủ công nghiệp khác cũng có sự phát triển mạnh trên cả nước như nghề làm muối, làm đường mật, làm giấy... Tính đến năm 1949, toàn quốc có 553 xưởng giấy, với sản lượng 1587 tấn. Trong ba năm đầu kháng chiến, ta cũng đã khai thác được hơn 2 vạn tấn than, 6000 tấn phốt phát, 300 tấn diêm tiêu...[1] Các mặt hàng này đã làm giảm bớt sự phụ thuộc của kinh tế trong nước vào hàng ngoại nhập, góp phần cải thiện đáng kể đời sống dân sinh và đáp ứng các yêu cầu của cuộc kháng chiến lâu dài.

Trước những chủ trương, chính sách đúng đắn của ta, âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" của thực dân Pháp dần dần bị phá sản. Chẳng những địch không bao vây được nền kinh tế của ta, ngược lại, còn bị ta kiên quyết bao vây ngược trở lại. Ở những vùng địch tạm chiếm, không lúc nào ngớt tiếng súng kháng chiến, điều này khiến cho địch không thể xây dựng lại những vùng sản xuất giống như thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám. Sản lượng than, cao su, lúa gạo... của địch không đạt yêu cầu, xuất khẩu giảm sút nghiêm trọng. Có thể thấy rõ, trong cuộc chiến tranh trên mặt trận kinh tế này, "khó khăn của ta là khó khăn của bước đường đi đến thắng lợi, khó khăn của địch là khó khăn trên con đường đi xuống, không thể nào khắc phục được". [2]

Tóm lại, xây dựng, phát triển kinh tế thực sự cũng là một cuộc chiến không khoan nhượng giữa ta và thực dân Pháp xâm lược. Những chủ trương, chính sách đúng đắn của ta trong giai đoạn này không những giúp nâng cao đời sống của nhân dân, mà còn góp phần làm thất bại âm mưu "đánh nhanh thắng nhanh" của kẻ thù, đảm bảo những yếu tố tất thắng cho cuộc trường kỳ kháng chiến. Nhìn lại lịch sử, có thể nói, những kinh nghiệm về xây dựng, phát triển kinh tế trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược thực sự vẫn còn giá trị vận dụng đối với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh ngày nay./.

 

 



[1] Võ Nguyên Giáp (2008), Tổng tập hồi ký, Nxb. Quân đội nhân dân, HN, tr 534.

[2] Võ Nguyên Giáp, Sđd, tr 537.

 

 

Joomla inotur picma