TÌM HIỂU VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN QUA CÁC KỲ ĐẠI HỘI

Email In PDF.

TÌM HIỂU VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN QUA CÁC KỲ ĐẠI HỘI

TS. Nguyễn Thị Hồng Huệ

Trưởng khoa Lý luận cơ sở

          Những thành tựu phát triển kinh tế xã hội to lớn hơn 30 năm qua có một phần đóng góp không nhỏ của kinh tế tư nhân. Quan điểm của Đảng ta đối với kinh tế tư nhân dựa trên những nguyên lý, nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chế độ sở hữu và thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nhận thức của Đảng về vị trí vai trò của kinh tế tư nhân không phải đã thực sự đúng đắn và hoàn thiện ngay từ đầu mà phải trải qua một quá trình lâu dài vừa nghiên cứu sâu sắc lý luận vừa tích cực tổng kết thực tiễn để tiệm cận với chân lý. Để thấy rõ quá trình ấy, bài viết này tập trung phân tích làm rõ quan điểm của Đảng ta đối với kinh tế tư nhân qua 30 năm đổi mới.

          Đại hội VI (1986), Đảng ta đã có những bước phát triển lý luận đúng đắn về phát triển kinh tế tư nhân. Dựa trên cơ sở thực tiễn Việt Nam, Đảng xác định “Phải có chính sách mở đường cho người lao động tự tạo ra việc làm, kích thích mọi người đưa vốn vào sản xuất, kinh doanh, tiết kiệm tiêu dùng để tích lũy tái sản xuất trên quy mô toàn xã hội”[1]. Trên tinh thần đó, Đại hội VI khẳng định “Cần sửa đổi, bổ sung và công bố rộng rãi chính sách nhất quán đối với các thành phần kinh tế… Xóa bỏ những thành kiến thiên lệch trong sự đánh giá và đối xử với người lao động thuộc các thành phần kinh tế khác nhau… tạo nên môi trường tâm lý xã hội thuận lợi cho việc thực hiện chính sách sử dụng và cải tạo nền kinh tế nhiều thành phần”[2].

Kế thừa tinh thần cuả Đại hội VI (1986) về kinh tế tư nhân, Đại hội VII (1991) khẳng định “Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước”[3]. “Kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành, nghề mà luật pháp không cấm. Nhà nước có thể liên doanh bằng nhiều hình thức với tư nhân trong và ngoài nước, hình thành loại doanh nghiệp thuộc thành phần tư bản nhà nước”[4]. Như vậy, theo Văn kiện Đại hội VII, kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành, nghề mà luật pháp không cấm. Từ chỗ coi kinh tế tư bản tư nhân là một thành phần kinh tế có thể sử dụng nhưng cần cải tạo bằng những bước đi thích hợp, Đại hội VII đã thực sự coi kinh tế tư nhân là một thành phần kinh tế độc lập, có tiềm năng phát triển và đóng góp cho sự phát triển kinh tế đất nước.

Đến Đại hội VIII (1996), khẳng định chính sách kinh tế nhiều thành phần đã góp phần đưa đến những thành tựu kinh tế - xã hội quan trọng qua 10 năm đổi mới, Văn kiện Đại hội VIII tiếp tục nhất quán, lâu dài chính sách kinh tế tư nhân nhiều thành phần, khuyến khích mọi doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước khai thác các tiềm năng, ra sức đầu tư phát triển; đối xử bình đẳng với mọi thành phần kinh tế trước pháp luật, không phân biệt sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh, đồng thời cần tạo điều kiện kinh tế và pháp lý thuận lợi để các nhà kinh doanh tư nhân yên tâm đầu tư làm ăn lâu dài.

Vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân tiếp tục được nâng tầm trong Văn kiện Đại hội IX (2001). Đảng ta khẳng định, kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế có vị trí quan trọng lâu dài trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; được khuyến khích phát triển không hạn chế về quy mô trong những ngành, nghề, lĩnh vực và địa bàn mà pháp luật không cấm. Như vậy, xuyên suốt từ Đại hội VI đến Đại hội IX quan điểm của Đảng về KTTN đã có những bước nhìn nhận mới, đường lối đổi mới toàn diện đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, được sự đồng tình hưởng ứng tích cực của nhân dân, kinh tế tư nhân gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân đã phát triển rộng khắp trong cả nước; đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng thu cho ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Cùng với các thành phần kinh tế khác, sự phát triển của kinh tế tư nhân đã góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng thêm số lượng công nhân, lao động và doanh nhân Việt Nam... 

          Nhằm thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển đạt trình độ mới, Hội nghị Trung ương 5 khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW, ngày 18-03-2002 về: tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân. Đây là Nghị quyết chuyên đề của Trung ương, trên cơ sở tổng kết thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng thời gian qua đồng thời bổ sung những quan điểm, định hướng và giải pháp nhằm khuyến khích và tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển hơn nữa.

Nghị quyết nêu: Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Do đó, phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao nội lực trong hội nhập kinh tế quốc tế.

Báo cáo chính trị tại Đại hội X (2005) xác định: “Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”[5].

Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X, chế độ sở hữu tư nhân được xếp “ngang hàng, bình đẳng” với sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, đó là nhận thức đúng đắn của Đảng đối với sự vận động nội tại của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ, đồng thời phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.

          Thừa nhận chế độ sở hữu tư nhân và ghi nhận nó trong Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc là cơ sở lý luận rất quan trọng, có ý nghĩa “nền tảng”, là điểm xuất phát để hình thành hệ thống chính sách cũng như thể chế kinh tế để tạo điều kiện và khuyến khích phát triển đối với kinh tế tư nhân cũng như toàn bộ nền kinh tế. Thừa nhận chế độ sở hữu tư nhân cũng có nghĩa là thừa nhận và phải xây dựng khung khổ pháp lý tương thích với tình trạng: một số nguồn lực, một số tư liệu sản xuất, thậm chí một số tài nguyên quốc gia sẽ thuộc sở hữu tư nhân, hoặc giao quyền sử dụng, quyền chiếm đoạt, định đoạt lâu dài cho tư nhân. Cũng có nghĩa là, một bộ phận lực lượng lao động xã hội, một phần nguồn nhân lực đất nước sẽ cống hiến cho kinh tế tư nhân, góp phần làm giàu cho một số ít người; và tất yếu sẽ dẫn đến hệ lụy là phân hóa giàu nghèo, thậm chí phân hóa giàu nghèo ngay trong đội ngũ đảng viên.

          Đại hội X khẳng định nền kinh tế nước ta tồn tại 5 thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân) là sự kế thừa và phát triển Nghị quyết về kinh tế tư nhân của Hội nghị Trung ương 5. Kinh tế tư nhân bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân. Đây là sự phát triển quan trọng trong việc phân định các thành phần kinh tế. Nếu như Đại hội IX tách riêng thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân thì Hội nghị Trung ương 5 và Đại hội X gộp lại làm một và gọi chung là kinh tế tư nhân. Về mặt lý luận khi nói kinh tế tư nhân là để phân định nó với kinh tế tập thể, kinh tế nhà nước, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Căn cứ để phân chia thành phần kinh tế là dựa vào chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất và phương thức phân chia giá trị của sản phẩm thặng dư. Kinh tế tư nhân là dựa trên chế độ sở hữu tư nhân. Đồng thời Văn kiện cũng chỉ rõ các bộ phận hợp thành kinh tế tư nhân bao gồm: cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân. Cách phân chia theo Đại hội X về kinh tế tư nhân không chỉ làm rõ về mặt quan hệ sản xuất, cụ thể là quan hệ sở hữu mà còn xác định về mặt lực lượng sản xuất. Việc gộp chung kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân thành kinh tế tư nhân nhưng vẫn chỉ rõ cấp độ và mức độ của từng bộ phận hợp thành. Kinh tế cá thể là cơ sở để xác định mô hình và qui mô tổ chức sản xuất kinh doanh của cá nhân và hộ gia đình; dựa trên quan hệ sở hữu nhỏ của cá nhân và gia đình về tư liệu sản xuất và kết quả lao động, không thuê mướn lao động của người khác một cách thường xuyên mà chủ yếu sử dụng lao động người nhà. Đối với kinh tế tiểu chủ là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh đã có thuê mướn lao động của người khác, tuy nhiên quy mô của sự thuê mướn lao động chưa lớn. Quan hệ bóc lột đã bắt đầu xuất hiện nhưng về cơ bản quan hệ của người mua với người bán sức lao động chưa trở thành vấn đề giai cấp mà vẫn chủ yếu là “tương trợ, giúp đỡ” lẫn nhau, giá trị thặng dư thu được cũng không lớn. Đối với kinh tế tư bản tư nhân thì quan hệ bóc lột giá trị thặng dư đã thể hiện rõ nét. Về cả nội dung và hình thức kinh tế tư bản tư nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng không khác bao nhiêu so với chủ nghĩa tư bản, chỉ khác là sự bóc lột giá trị thặng dư của doanh nghiệp tư nhân đặt trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật do Nhà nước xã hội chủ nghĩa tạo lập nên. Phân định thành phần kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X thể hiện tính khái quát cũng như tầm vĩ mô trong việc hoạch định đường lối kinh tế tạo cơ sở nền tảng để cụ thể hóa thành Hiến pháp, pháp luật cũng như các chính sách kinh tế của Nhà nước.

Về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của kinh tế tư nhân, Đại hội X nhận định “Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”.[6] Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng nghĩa là nó không thể thiếu, không thể bị bỏ qua và cũng không thể bị xem nhẹ trong hoạch định chính sách kinh tế. Mỗi thành phần kinh tế có một vị trí và tầm quan trọng nhất định đối với nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân với những lợi thế đặc thù như doanh nghiệp tư nhân có bộ máy quản lý và nhân sự gọn nhẹ, quản trị nhân lực hiệu quả, huy động vốn nhanh, quyết sách ứng phó với thương trường năng động, mềm dẻo… không chỉ tạo ra sức sống cho riêng mình và còn tác động lan tỏa nhiều mặt tới các thành phần kinh tế khác.

          Hơn nữa, kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế. Đây là bước đột phá trong nhận thức của Đảng đối với kinh tế tư nhân. Từ chỗ có phần “xem nhẹ” vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân đến việc thừa nhận nó là một trong những động lực của nền kinh tế, tức là xác định rõ kinh tế tư nhân có đóng góp nhất định tới tăng trưởng và phát triển kinh tế- xã hội. Nói tới động lực của nền kinh tế là đề cập tới những năng lực nội sinh của kinh tế tư nhân, không những tạo ra động lực cho sự phát triển của chính mình mà còn góp thêm lực đẩy cho toàn bộ nền kinh tế. Chế độ sở hữu tư nhân có điều kiện đáp ứng lợi ích kinh tế một cách trực tiếp đối với từng chủ thể kinh tế do đó khuyến khích, động viên chủ sở hữu cũng như người lao động năng động, sáng tạo, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật… góp phần đáng kể thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm.

          Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm đã hình thành trước đó đối với các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế và các loại hình doanh nghiệp. Trên cơ sở định hướng của Đảng, Nhà nước phải khẩn trương thể chế hóa thành pháp luật, chính sách và tổ chức thực hiện để tạo ra môi trường kinh doanh thực sự thuận lợi, khuyến khích các doanh nghiệp phát huy tối đa nội lực, mở rộng quy mô đầu tư, làm giàu chính đáng và chấp hành nghiêm quy định của pháp luật về nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội. Việc bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể sở hữu tài sản thuộc các hình thức sở hữu, các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế là yêu cầu cấp bách. Bởi vì, các chủ thể kinh doanh, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân khởi nghiệp chỉ thật sự đầu tư, bỏ vốn kinh doanh khi chính sách Nhà nước có độ tin tưởng nhất định. Việc khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển còn bất cập, chưa trúng và đúng ý dân, chính sách còn xa dân và như vậy dân sẽ thờ ơ với Nghị quyết của Đảng.

Mặt khác, những điều kiện cần thiết để bất kỳ chủ thể nào khởi nghiệp hay muốn mở rộng quy mô kinh doanh đều phải tính đến như: đất đai, tài nguyên, vốn, tài sản do Nhà nước đại diện chủ sở hữu giao cho các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế sử dụng phải được công khai, minh bạch để mọi chủ thể đều có cơ hội tiếp cận một cách bình đẳng và theo nguyên tắc hiệu quả. Các chủ thể có quyền và nghĩa vụ như nhau theo pháp luật trong việc sử dụng các nguồn lực thuộc Nhà nước.

Phát triển quan điểm của Đại hội X, Đại hội XI tiếp tục khẳng định quá trình hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế. Đồng thời phát triển mạnh các loại hình kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật là sự coi trọng và đối xử bình đẳng thật sự giữa kinh tế tư nhân với các phần kinh tế khác. Địa bàn và ngành nghề kinh doanh hầu như không còn “vùng cấm” đối với kinh tế tư nhân. Vấn đề chỉ còn là, các chủ thể kinh tế tư nhân có đủ sức để “vùng vẫy” và tự khẳng định mình trong một sân chơi bình đẳng với luật chơi chung hay không mà thôi.

Khuyến khích kinh tế tư nhân không chỉ đổi mới mô hình tăng trưởng theo chiều rộng với qui mô không hạn chế mà còn coi trọng chất lượng tăng trưởng, khuyến khích tăng trưởng theo chiều sâu. Đảng, Nhà nước đã và đang tiếp tục tạo mọi điều kiện thuận lợi để hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân lớn mạnh đồng thời khuyến khích tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước. Tập đoàn kinh tế tư nhân hoặc tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế khác vừa thể hiện sự coi trọng các nguồn lực có xuất xứ từ kinh tế tư nhân vừa phát huy những lợi thế, những sức mạnh riêng có quan hệ sở hữu tư nhân đóng góp vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Mặt khác, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế các tập đoàn kinh tế tư nhân hoặc doanh nghiệp cổ phần có vốn góp của tư nhân sẽ phát huy sở trường “tư nhân” để hòa nhập có hiệu quả hơn. Bởi vì, các đối tác làm ăn trên trường quốc tế hiện nay đa số là kinh tế tư nhân.

          Sự phát triển mới về nhận thức của Đảng đối với kinh tế tư nhân tại Đại hội XII (tháng 12/2016) đã chính thức xác nhận: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp. Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước”[7]. Điểm mới đáng quan tâm ở Đại hội XII so với các kỳ Đại hội trước là sự khẳng định mạnh mẽ, dứt khoát hơn quan điểm của Đảng khi coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế.

          Quan điểm của Đảng đối với kinh tế tư nhân tại Đại hội XII đã có sự “đột biến”. Đó là xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế. Nếu như trước đây, Văn kiện chỉ nhận định kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế, thì Đại hội XII đã nâng lên thành động lực quan trọng của nền kinh tế. Khái niệm “động lực” và “động lực quan trọng” là một sự chuyển biến về chất. Việc xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng có nghĩa là vị trí và vai trò của nó đã trở nên rất quan trọng và không thể thiếu đối với nền kinh tế quốc dân, là nơi sản sinh ra “lực đẩy”, tạo ra “động năng” tham gia quyết định tới xu hướng cũng như tốc độ vận động của nền kinh tế. Từ Đại hội XII, kinh tế tư nhân không chỉ là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế mà trở thành động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế vận hành đúng hướng. Sự phát triển của kinh tế tư nhân không chỉ là sự bổ sung, hỗ trợ cho kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể mà còn tạo nên sự phong phú, đa dạng của bộ mặt nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân, hiểu theo một góc độ nhất định không chỉ là đối tác cạnh tranh bình đẳng mà còn là đối trọng buộc các loại hình kinh tế khác phải tự nâng cao năng lực nội sinh của mình mới có thể chiến thắng hay giành ưu thế trong sân chơi bình đẳng trước kinh tế tư nhân.

Hội nghị Trung ương 5 khóa XII đã ban hành Nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 03-06-2017) với mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đưa kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, đa dạng với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng và tỷ trọng trong tổng sản phẩm nội địa (GDP). 

Nghị quyết là một bước tiến mới, tạo động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân và toàn bộ nền kinh tế. Đồng thời, thể hiện sự tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế của Đảng để phù hợp với thực tiễn phát triển của nền kinh tế sau 30 năm đổi mới.

Quan điểm, chủ trương, chính sách lớn của Đảng đối với kinh tế tư nhân sau 30 đặc biệt là qua hai nghị quyết được thông qua tại hai Hội nghị Trung ương 5 (khóa IX và XII) đã cơ bản được hoàn thiện và đúng đắn. Vấn đề quan trọng là tổ chức thực hiện, cụ thể hóa thành pháp luật, chính sách của Nhà nước để nghị quyết Đảng vào cuộc sống, tới cơ sở. Cần phải có quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân từ Trung ương tới cơ sở, đặc biệt là sự chuyển biến rõ rệt trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trực tiếp làm nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân.

 

 



[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1986, tr.58

[2] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1986, tr.59

[3] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1986, tr.60

[4]Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1986, tr.61

[5] Báo cáo chính trị Đại hội X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2006, tr83

 [6] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 2006, tr.83

[7] Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà nội, 2016

 

 

Joomla inotur picma