PHÁT TRIỂN KINH TẾ KẾT QUẢ SAU 05 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU NHIỆM KỲ 2015 - 2020

Email In PDF.

PHÁT TRIỂN KINH TẾ
KẾT QUẢ SAU 05 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU NHIỆM KỲ 2015 - 2020

Nguyễn Quang Trung

GV. Khoa Nhà nước và Pháp luật

Đại hội đại biểu lần thứ VI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 Đảng bộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu khai mạc ngày 22/10/2010 với sự tham dự của 348 đại biểu, đại diện cho trên 34.135 đảng viên toàn đảng bộ. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh BRVT lần thứ VI được triển khai thực hiện trong bối cảnh đất nước và địa phương có những thời cơ thuận lợi và khó khăn nhất định. Qua 05 năm thực hiện Nghị quyết, kết quả đạt được trên các lĩnh vực có ý nghĩa thiết thực, trong đó có những thành tựu trong lĩnh vực phát triển kinh tế.

GRDP trừ dầu khí tăng 6,10%/ năm, quy mô GRDP đứng thứ 3 cả nước; GRDP bình quân đầu người (trừ dầu khí) đạt 6.903 USD, cao gấp 02 lần mức bình quân chung cả nước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Công nghiệp – xây dựng chiếm 58,66% (tăng 3,73%), dịch vụ chiếm 29,35% (giảm 2,88%) và nông nghiệp chiếm 11,98% (giảm 0,85%).

Có 9/15 chỉ tiêu phát triển kinh tế đạt và vượt Nghị quyết. Chín chỉ tiêu này bao gồm: Giá trị sản xuất công nghiệp; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành; doanh thu dịch vụ lưu trú; doanh thu dịch vụ cảng; giá trị xuất khẩu trừ dầu khí; giá trị sản xuất nông nghiệp; giá trị sản xuất lâm nghiệp; tổng vốn đầu tư phát triển, tổng chi ngân sách.

Công nghiệp phát triển ổn định theo hướng bền vững, có chọn lọc và bảo vệ môi trường. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 8,36%/năm (NQ 7,6%), cơ cấu có sự chuyển dịch mạnh từ công nghiệp khai thác sang công nghiệp chế biến, chế tạo (tỷ lệ 52% năm 2015 lên 87%); phát triển công nghiệp hỗ trợ được định hướng cụ thể, thu hút được nhiều dự án mới. Trong đó, có 23 dự án hoạt động về lĩnh vực công nghiệp chất lượng cao; 77 cơ sở hoạt động về công nghiệp hỗ trợ; tập trung thu hút, thúc đẩy khởi công xây dựng những dự án có vốn lớn, giá trị gia tăng cao, có sức cạnh tranh lan toả như Tổ hợp Hoá dầu miền Nam, nhà máy sản xuất PP và kho ngầm chứa khí dầu mỏ hoá lỏng của tập đoàn Hyosung, nhà máy sản xuất giấy Marubeni, nhà máy kính nổi siêu trắng.

Quy hoạch không gian các khu công nghiệp được điều chỉnh phù hợp với mục tiêu phát triển như Khu công nghiệp B1-Conac, thay đổi công năng Khu công nghiệp dầu khí Long Sơn, phê duyệt quy hoạch Khu công nghiệp ứng dụng công nghệ cao Hắc Dịch. Tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp đã nâng từ 33,5% lên 52,45% trên tổng số khu công nghiệp được thành lập và đạt 62,3% trên 13 khu công nghiệp đang hoạt động. Các cụm công nghiệp được rà soát, xác định lại số lượng, quy mô, phân bổ phù hợp theo từng địa bàn; đã điều chỉnh giảm quy hoạch từ 44 cụm còn lại 14 cụm; cụm công nghiệp Hoà Long, Phước Thắng đang được chỉ đạo thúc đẩy tiến độ; thành lập mới 02 cụm công nghiệp chế biến thuỷ sản tại Lộc An, huyện Đất Đỏ và Bình Châu, huyện Xuyên Mộc.

Hệ thống cảng biển có sự chuyển biến mạnh mẽ, dịch vụ hậu cần cảng được quan tâm đầu tư. Cụm cảng Cái Mép – Thị Vải thuộc nhóm cảng có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới, là một trong 21 cảng có thể tiếp nhận tàu có trọng tải 200.000 tấn; khối lượng hàng hoá và số lượng tàu vào cảng tăng nhanh. Đến 2020, tổng khối lượng hàng hoá thông qua cảng đạt 75 triệu tấn, tăng 8,74%/năm; số lượng tàu container tăng từ 9 chuyến/tuần năm 2015 lên 24 chuyến/tuần. Triển khai đầu tư đồng bộ nhiều tuyến đường giao thông quan trọng kết nối cảng như đường Liên cảng, 991B, Phước Hoà – Cái Mép, Long Sơn – Cái Mép; chuẩn bị đầu tư cầu Phước An kết nối hệ thống cảng với cao tốc Bến Lức – Long Thành – Dầu Giây và đầu tư cao tốc Biên Hoà – Vũng Tàu. Dịch vụ hậu cần cảng có thêm 152 ha kho bãi đi vào hoạt động, đang chuẩn bị thủ tục lựa chọn nhà đầu tư Trung tâm logistics Cái Mép Hạ. Công tác cải cách thủ tục, rút ngắn thời gian thông quan hàng hoá qua cảng được triển khai đồng bộ, hiệu quả như duy trì hệ thống thông quan tự động, triển khai cơ chế 1 cửa quốc gia về cảng biển, thệ thống 1 cửa ASEAN, Đề án nộp thuế điện tử và thông quan 24/7, hệ thống quản trị hải quan tự động, chương trình nộp thuế điện tử doanh nghiệp nhờ thu.

Du lịch có nhiều chuyển biến, tạo được sức hút với nhà đầu tư lớn, thu hút khách bằng việc tăng cường quản lý nhà nước như làm sạch bãi biển, quản lý giá dịch vụ, cung cấp thông tin, bảo đam an ninh – an toàn cho khách du lịch; triển khai nhiều hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch trong và ngoài nước. Phát triển thêm 53 tuyến du lịch và 15 sản phẩm du lịch mới và đưa vào khai thác một số dự án du lịch cao cấp như Khách sạn Pullman, Khách sạn Malibu, khu du lịch Melia Resort Hồ Tràm, Marina Bay Vũng Tàu. Hành lang du lịch tuyến Vũng Tàu – Long Hải – Phước Hải – Bình Châu được thúc đẩy mạnh mẽ 77 dự án đầu tư với 27 dự án đã đi vào hoạt động, 25 dự án đang triển khai xây dựng và 25 dự án đang thực hiện thủ tục ddầu tư. Lượng khách lưu trú tăng 7,39%/năm, trong đó khách quốc tế tăng 0,68%/năm.

Các ngành dịch vụ phát triển đa dạng, chất lượng ngày càng cao. Hệ thống phân phối thương mại phát triẻn mạnh theo hướng hiện đại, với 189 cơ sở, trong đó 88 chợ, 04 trung tâm thương mại, 11 siêu thị và 86 cửa hàng tiện ích. Xuất khẩu tăng trưởng cả về kim ngạch lẫn số lượng mặt hàng có khả năng cạnh tranh sang thị trường EU, Nhật, Mỹ như chất dẻo nguyên liệu, sản phẩm từ sắt thép, túi xách, vali, mũ, hàng dệt may, giày dép, xơ sợi dệt… đạt 22,1 tỷ USD (tăng 10%/năm). Các ngành dịch vụ khá như ngân hàng, viễn thông, bưu chính, vận tải, tư vấn pháp lý ngày càng phát triển đa dạng, đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Nông nghiệp tiếp tục được tập trung phát triển theo hướng công nghệ cao, tỷ trọng trồng trọt 55,84%, chăn nuôi 44,6%; các sản phẩm công nghệ cao chiếm 30%; ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, hình thành nhiều mô hình sản xuất tập trung, tăng cường bảo vệ môi trường, nâng cao giá trị gia tăng trong sản xuất. Đề án 04-ĐA/TU vè phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đạt được những kết quả bước đầu như kêu gọi doanh nghiệp đầu tư, hướng dẫn, hỗ trợ người nông dân cùng làm, đồng thời bao tiêu sản phẩm cho người nông dân. Đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho sản xuất; định hướng các địa phương quy hoạch dành quỹ đất để phát triển các khu dân cư, đô thị với mật độ cây xanh cao; trồng mới được 3.217 ha rừng ngập mặn và 257.920 cây phân tán các loại.

Hoạt động đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thuỷ sản phát triển và gắn với bảo vệ chủ quyền biển đảo với nhận thức và chấp hành pháp luật được nâng cao; đã triển khai đồng bộ và kịp thời cá chính sách hỗ trợ ngư dân; hạ tầng phục vụ đánh bắt thuỷ sản được quan tâm đầu tư như hoàn thành giai đoạn 1 các khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá tại Sông Dinh, Bến Lội và Côn Đảo. Sản lượng khai thác đạt 1,6 triệu tấn (tăng 2,9%/năm); sản lượng nuôi trồng đạt 87,3 ngàn tấn (tăng 4,78%/năm); kim ngạch xuất khẩu đạt 350 triệu USD/năm.

Huy động được nhiều nguồn lực thực hiện Chương trình nông thôn mới với 11.938 tỷ đồng, trong đó ngân sách chiém 28%, vốn xã hội hoá 72%. Thành phố Bà Rịa được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới với 39/45 xã đạt chuẩn, trong đó 18 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; thu nhập bình quân đầu người tại các xã nông thôn mới đạt khoảng 54 triệu đồng/người/năm; tăng 24 triệu đồng so với 2015.

Thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội vượt chỉ tiêu Nghị quyết với 233.162 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư từ ngân sách 41.117 tỷ đồng (chiếm 17,63%), vốn đầu tư của doanh nghiệp 192.045 tỷ đồng (chiếm 82,37%). Năng lực mới về hạ tầng kỹ thuật, xã hội và kinh tế tăng thêm gồm 265 công trình vốn ngân sách và 136 công trình dự án vốn ngoài ngân sách. Kiên trì thực hiện chủ trương thu hút đầu tư có chọn lọc gắn liền với bảo vệ môi trường và kiểm soát thâm dụng lao động. Triển khai nhiều giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư như chủ động kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước, tổ chức hội nghị xúc tiến đầu tư tại thành phố Hồ Chí Minh, Nhật Bản, Hàn Quốc vào các lĩnh vực du lịch, nhà ở xã hội, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao… Cấp mới 379 dự án với tổng vốn đăng ký tăng thêm 3,2 tỷ USD và 80.000 tỷ đồng; tăng vốn 147 dự án với 2,57 tỷ USD và 14.700 tỷ đồng. Môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện như tổ chức đối thoại, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, công bố công khai danh mục dự án thu hút đầu tư, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục đầu tư. Hỗ trợ doanh nghiệp bằng nhiều biện pháp như hỗ trợ tiếp cận các nguồn vốn, tín dụng; khoa học công nghệ; tuyển dụng lao động; tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng; bồi dưỡng nâng cao tầm nhìn 1000 doanh nhân; chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp, chương trình hỗ trợ phát triển hợp tác xã. Số lượng doanh nghiệp tăng 49,3%, đóng góp cho ngan sách tăng 55,11%, giải quyết việc làm cho 119.806 lao động.

Chức năng lập, điều chỉnh quy hoạch được thực hiện thường xuyên với 144 quy hoạch, trong đó có Quy hoạch chung xây dựng thành phố Vũng Tàu; tất cả 10 đô thị đều đã được phê duyệt quy hoạch chung và có quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị.

Quản lý đất đai, tài nguyên được siết chặt cả 03 cấp, đặc biệt là quản lý, khai thác, đấu giá đất công với việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính của 49/82 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó hành thành 05 đơn vị hành chính cấp huyện; xây dựng cơ sở dữ liệu giá đất và bản đồ giá đất; hoàn thành Dự án quản lý, khai thác quỹ đất công trên địa bàn tỉnh. Thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất công để bổ sung nguồn lực cho đầu tư phát triển. Quản lý nhà nước về khoáng sản, bảo vệ môi trường được tập trung chỉ đạo quyết liệt; các nguồn khí thải, nước thải lớn được giám sát liên tục thông qua hệ thống quan trắc tự động với 41 điểm quan trắc tự động. Triển khai đồng bộ các đề án, chương trình, kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu.

Tổng thu ngân sách đạt khoản 384.830 tỷ đồng, luôn đứng tốp đầu cả nước về đóng góp ngân sách quốc gia. Cơ cấu thu ngân sách thay đổi theo hướng bền vững; tỷ trọng thu nội địa vượt cao so với thu từ dầu khí. Cụ thể: thu từ dầu khí đạt khoảng 136.638 tỷ đồng, chiếm 35,51% (giảm 21,14%); thu thuế xuất nhập khẩu đạt 92.760 tỷ đồng, chiếm 24,1% (tăng 4,06%); và thu nội địa đạt 154.862 tỷ đồng, chiếm 40,24% (tăng 17,15%) so với giai đoạn 2011-2015. Thu ngân sách địa phương được hưởng 82.176 tỷ đồng, vượt 26,25% dự toán. Thực hiện nhiều giải pháp để cắt giảm các khoản chi không hợp lý, trùng lắp; ưu tiên chi cho đầu tư phát triển và mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống người dân; tổng chi ngân sách 84.565 tỷ đồng, trong đó tỷ lệ chi đầu tư phát triển chiếm 48,62%, chi thường xuyên chiếm 50,29%; nâng cao hiệu quả và thúc đẩy tiến độ thoái vốn tại các doanh nghiệp nhà nước.

Có thể thấy rằng, sau 05 thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh nhà đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận; tạo cơ sở, nền tảng cho việc xây dựng, hoạch định mục tiêu, giải pháp cho nhiệm kỳ 2020 – 2025. Với truyền thống cách mạng hào hùng trước những khó khăn, thách thức; tinh thần đoàn kết, tự lực, tự cường tranh thủ thời cơ, khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, Chúng ta tin tưởng và hy vọng các chỉ tiêu về phát triển kinh tế trong nhiệm kỳ này sẽ được thực hiện thành công vượt mong đợi./.

 

Tài liệu tham khảo:

1. Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII nhiệm kỳ 2020 – 2025.

2. Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VI nhiệm kỳ 2015 – 2020.

 

Joomla inotur picma