MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT DÂN QUÂN TỰ VỆ 2019

Email In PDF.

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT DÂN QUÂN TỰ VỆ 2019

ThS. Trần Ngọc Sáng
Khoa Xây dựng Đảng

Dân quân tự vệ (DQTV) là thành phần quan trọng của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam (VN), góp phần bảo vệ Đảng, chính quyền, tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của cơ quan, tổ chức. Đây cũng chính là lực lượng nòng cốt để thực hiện chủ trương, quan điểm của Đảng và nhà nước ta về chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân.

Trong thời kỳ hòa bình, DQTV có nhiệm vụ vừa lao động sản xuất, vừa đóng vai trò xung kích trong bảo vệ sản xuất, phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, địch họa và các sự cố nghiêm trọng khác, đồng thời phối hợp với lực lượng an ninh cơ sở giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; tham gia xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, góp phần xây dựng khu vực phòng thủ địa phương ngày càng vững chắc. Ở các vùng biên giới, biển, đảo, DQTV còn có trách nhiệm phối hợp với Bộ đội Biên phòng giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh biên giới của Tổ quốc.

Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã rất quan tâm đến vấn đề xây dựng, phát triển lực lượng DQTV. Ngày nay, lực lượng DQTV ở nước ta đã được phát triển cả về chất lượng, số lượng, biên chế trang bị. Sức mạnh tổng hợp của DQTV ngày càng được nâng cao, sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, bảo đảm bảo vệ vững chắc Tổ quốc VN XHCN.

Năm 2009, Quốc hội khóa XII đã ban hành Luật DQTV. Tuy nhiên, đến nay, nhiều chủ trương, quan điểm mới của Đảng, quy định mới của Nhà nước liên quan đến DQTV chưa được cập nhật, bổ sung. Bên cạnh đó, qua tổng kết 10 năm thực hiện Luật DQTV 2009, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác DQTV cũng bộc lộ một số hạn chế, bất cập cần phải được điều chỉnh kịp thời. Chính vì vậy, ngày 22/11/2019, Quốc hội khóa XIV đã ban hành Luật số 48/2019/QH14 về DQTV (có hiệu lực từ 01/7/2020, thay thế cho Luật DQTV năm 2009).

Luật DQTV 2019 cơ bản kế thừa Luật DQTV năm 2009, gồm có 08 chương, 50 điều (giảm 01 chương, 16 điều). Bố cục cụ thể của Luật như sau:

- Chương I: Những quy định chung, gồm 14 điều (từ điều 01 đến điều 14).

- Chương II: Tổ chức, biên chế, vũ khí, trang bị của DQTV, gồm 11 điều (từ điều 15 đến điều 25).

- Chương III: Đào tạo Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự cấp xã; tập huấn bồi dưỡng các chức vụ chỉ huy huấn luyện DQTV, gồm 03 điều (từ điều 26 đến điều 28).

- Chương IV: Hoạt động của DQTV, gồm 04 điều (từ điều 29 đến điều 32).

- Chương V: Chế độ, chính sách và nhiệm vụ chi cho DQTV, gồm 07 điều (từ điều 33 đến điều 39).

- Chương VI: Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức về DQTV, gồm 06 điều (từ điều 40 đến điều 45).

- Chương VII: Thi đua, khen thưởng và xử lý vi phạm, gồm 03 điều (từ điều 46 đến điều 48).

- Chương VIII: Điều khoản thi hành, gồm 02 điều, (từ điều 49 đến điều 50).

Ngoài những nội dung cơ bản được kế thừa từ Luật DQTV 2009, Luật DQTV 2019 gồm một số nội dung mới như sau:

1. Về giải thích từ ngữ (Điều 2): Bỏ quy định về "DQTV nòng cốt", "DQTV rộng rãi". Luật DQTV 2019 chỉ sử dụng duy nhất khái niệm "DQTV" để phù hợp với Điều 66 của Hiến pháp 2013([1]) , thống nhất với Luật Quốc phòng và các luật có liên quan khác. Luật cũng bổ sung giải thích các cụm từ "Ban Chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức", "Công tác DQTV" để thống nhất cách hiểu về các cụm từ này.

2. Về vị trí, chức năng của DQTV (Điều 3): Bổ sung cụm từ "tài sản của cơ quan, tổ chức" để hoàn chỉnh địa vị pháp lý và chức năng của DQTV.

3. Về nguyên tắc tổ chức, hoạt động của DQTV (Điều 4): Bổ sung quy định sự chỉ huy của Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân VN và người chỉ huy đơn vị Quân đội vào trong nguyên tắc tổ chức, hoạt động của DQTV, nhằm đảm bảo chặt chẽ nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với DQTV và để phù hợp với tình hình thực tế.

4. Về nhiệm vụ của DQTV (Điều 5): Quy định nhiệm vụ mới của DQTV là "Tham gia thực hiện các biện pháp về chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng theo quy định của pháp luật, quyết định của cấp có thẩm quyền" để đáp ứng với yêu cầu thực tiễn hiện nay.

5. Về thành phần của DQTV (Điều 6): Quy định rõ dân quân thường trực là một trong những thành phần của DQTV (Luật DQTV 2009 quy định dân quân thường trực luân phiên trong dân quân cơ động). Như vậy, theo Luật DQTV 2019, thành phần của DQTV bao gồm: DQTV tại chỗ; DQTV cơ động; Dân quân thường trực; DQTV biển; DQTV phòng không, pháo binh, trinh sát, thông tin, công binh, phòng hóa, y tế.

6. Về thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV trong thời bình (Điều 8): Bổ sung quy định mới: Thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV trong thời bình của Dân quân thường trực là 2 năm. Đối với Dân quân biển, tự vệ và chỉ huy đơn vị DQTV được kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV đến hết 50 tuổi với nam, đến hết 45 tuổi đối với nữ.

7. Về đăng ký công dân thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV (Điều 9): Bổ sung quy định lồng ghép đăng ký công dân thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV với đăng ký nghĩa vụ quân sự nhằm thực hiện đúng tinh thần cải cách hành chính, tiết kiệm thời gian, nguồn lực của công dân và cơ quan, tổ chức.

8. Về tạm hoãn, miễn thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV trong thời bình (Điều 11): Mở rộng thêm 04 đối tượng được tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV (Nam giới một mình nuôi con dưới 36 tháng tuổi; Người có chồng hoặc vợ là cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật; Lao động duy nhất trong hộ cận nghèo; người phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động; người trong hộ gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra được Chủ tịch UBND cấp xã, Chủ tịch UBND cấp huyện nơi không có đơn vị hành chính cấp xã, người đứng đầu cơ quan, tổ chức nơi công dân cư trú hoặc làm việc xác nhận; Vợ hoặc chồng, một con của thương binh, bệnh binh, người bị nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%), 02 đối tượng được miễn thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV (Người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc Bà mẹ Việt Nam anh hùng và người làm công tác cơ yếu), để tương thích với Luật Nghĩa vụ quân sự, phù hợp với thực tế và đảm bảo bình đẳng giới.

9. Về thôi thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV trước thời hạn, đưa ra khỏi danh sách DQTV (Điều 12): Bổ sung thêm 04 đối tượng thôi thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV trước thời hạn; 06 trường hợp ra khỏi danh sách DQTV.

10. Về tổ chức DQTV (Điều 15): Bổ sung quy định các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ven biển tổ chức Hải đội Dân quân thường trực nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới.

11. Về điều kiện tổ chức tự vệ trong doanh nghiệp (Điều 17): Luật quy định chung cho các loại hình doanh nghiệp nếu có đủ 04 điều kiện([2]) thì được xem xét tổ chức tự vệ, đúng với nguyên tắc tổ chức và hoạt động của DQTV.

12. Về hệ thống chỉ huy DQTV (Điều 18): Bổ sung quy định hệ thống chỉ huy DQTV bao gồm từ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đến thôn đội trưởng để phù hợp với Luật Quốc phòng và thực tiễn đang thực hiện.

13. Về chức vụ chỉ huy DQTV (Điều 19): Bổ sung đầy đủ các chức vụ chỉ huy DQTV (kể cả cấp phó) để thực hiện thống nhất, nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ huy DQTV; đồng thời làm cơ sở để thực hiện chế độ, chính sách đối với các đối tượng này.

14. Về ban chỉ huy quân sự cấp xã, thôn đội trưởng (Điều 20): Bổ sung quy định Ban chỉ huy quân sự cấp xã là cơ quan thường trực công tác quốc phòng ở cấp xã gồm 04 chức danh chỉ huy như sau:

- Chỉ huy trưởng: Là ủy viên UBND xã, sỹ quan dự bị; trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, tình trạng chiến tranh có thể được gọi vào phục vụ tại ngũ.

- Chính trị viên: Do bí thư cấp ủy cấp xã đảm nhiệm.

- Phó chỉ huy trưởng: Là người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

- Phó chính trị viên: Do Bí thư Đoàn TNCS HCM đảm nhiệm.

Ngoài ra, bổ sung quy định thôn đội trưởng kiêm chỉ huy dân quân tại chỗ ở thôn nhằm tinh gọn, nâng cao hiệu quả hoạt động của dân quân ở thôn.

15. Về bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức vụ chỉ huy DQTV (Điều 23): Bổ sung quy định giao Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định sỹ quan Quân đội nhân dân VN giữ chức vụ chỉ huy DQTV trong trường hợp cần thiết.

16. Về đào tạo Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự cấp xã (Điều 26): Quy định mới: Chỉ huy trưởng, Phó Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự cấp xã phải được đào tạo Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự cấp xã ngành quân sự cơ sở trình độ trung cấp, cao đẳng hoặc đại học tại nhà trường quân đội.

17. Về tập huấn, bồi dưỡng, huấn luyện của DQTV (Điều 27 + Điều 28): Quy định cụ thể thời gian huấn luyện, giao Bộ Quốc phòng quy định chi tiết các nội dung liên quan.

18. Về hoạt động của DQTV (Điều 29 + Điều 30 + Điều 31 + Điều 32): Quy định rõ hơn những hoạt động chủ yếu của DQTV; giao Chính phủ quy định chi tiết về hoạt động phối hợp của DQTV.

19. Về chế độ chính sách của DQTV (Điều 33 + Điều 34 + Điều 35): Luật chỉ quy định chế độ, chính sách được hưởng, giao Chính phủ quy định chi tiết. Đồng thời bổ sung thêm 03 chính sách mới:

- Chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với dân quân thường trực.

- Phụ cấp đặc thù đi biển.

- Bảo đảm tiền ăn khi DQTV được huy động làm nhiệm vụ.

20. Về nguồn kinh phí (Điều 36): Quy định rõ nguồn kinh phí bảo đảm cho DQTV bao bồm: Ngân sách nhà nước; Kinh phí của tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập và các nguồn kinh phí khác (tài trợ, xã hội hóa...).

21. Về nhiệm vụ chi cho DQTV (Điều 37 + Điều 38 + Điều 39): Điều chỉnh, bổ sung một số nội dung để khắc phục chồng chéo nhiệm vụ chi của Bộ Quốc phòng, địa phương và cơ quan, tổ chức. Ngoài ra, quy định rõ việc đào tạo, Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự cấp xã ngành quân sự cơ sở thuộc nhiệm vụ chi của Bộ Quốc phòng do ngân sách Trung ương bảo đảm.

22. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức về DQTV (Điều 40 + Điều 41 + Điều 42 + Điều 43 + Điều 44 + Điều 45): Điều chỉnh, bổ sung một số quy định mới để thống nhất với các luật có liên quan, đảm bảo tính minh bạch, quy định rõ trách nhiệm của từng bộ, ngành cơ quan, tổ chức và chính quyền địa phương.

23. Về sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật có liên quan đến DQTV (Điều 49): Yêu cầu sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nghĩa vụ quân sự 2015, Luật Sỹ quan quân đội nhân dân VN nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật về quốc phòng.

Tóm lại, Luật DQTV 2019 ra đời đã đáp ứng những đòi hỏi bức thiết của thực tiễn hiện nay, giúp thể chế đầy đủ đường lối, quan điểm của Đảng về DQTV, đồng thời tạo cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng lực lượng DQTV vững mạnh, rộng khắp và ngày càng phát triển, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân quân tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là bức tường sắt của Tổ quốc, vô luận kẻ địch hung bạo thế nào hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã([3]) Nghiêm túc quán triệt, tuyên truyền, quán triệt Luật Dân quân tự vệ là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để đảm bảo nhận thức đúng đắn trong xây dựng và phát triển lực lượng DQTV, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong bối cảnh phức tạp hiện nay./.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban tổ chức Hội nghị tập huấn tỉnh BR - VT, Các chuyên đề giới thiệu tại Hội nghị tập huấn Luật Dân quân tự vệ, Tài liệu lưu hành nội bộ, 2020.

2. Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 5, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.

3. Quốc hội khóa XIII, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013.

4. Quốc hội khóa XII, Luật Dân quân tự vệ 2009.

5. Quốc hội khóa XIV, Luật Dân quân tự vệ 2019.

 

 



[1] Điều 66 Hiến pháp 2013: Nhà nước xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. 

       [2] 4 điều kiện bao gồm: Bảo đảm sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự quản lý của UBND các cấp và sự chỉ huy của cơ quan quân sự địa phương cấp tỉnh, cấp huyện; Theo yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đề án, kế hoạch tổ chức DQTV của địa phương nơi doanh nghiệp hoạt động và phù hợp với tổ chức sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; Đã hoạt động từ đủ 24 tháng trở lên; Có số lượng người lao động đủ tiêu chuẩn tuyển chọn thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV để tổ chức ít nhất 01 tiểu đội tự vệ.

       [3] Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 5, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 369.

 

 

Joomla inotur picma