CÔNG ƯỚC CEDAW VÀ VẤN ĐỀ THỰC THI BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI VIỆT NAM

Email In PDF.

CÔNG ƯỚC CEDAW VÀ VẤN ĐỀ THỰC THI BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI VIỆT NAM

ThS. Nguyễn Hương Quế

Khoa Nhà nước và pháp luật

1. Đôi điều về Công ước CEDAW

CEDAW là tên viết tắt của “Công ước của Liên Hợp Quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ”(Convention on the Elimination of all forms of Discrimination against Women) đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc phê chuẩn ngày 18/12/1979. Ngày 3/9/1981, sau khi nước thứ 20 thông qua, công ước này bắt đầu có hiệu lực với tư cách một văn kiện quốc tế tổng hợp nhất về quyền con người của phụ nữ. CEDAW là một trong những điều ước quốc tế về quyền con người được phê chuẩn rộng rãi nhất với tiêu chí xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ là tạo điều kiện quan trọng để phụ nữ có cơ hội bình đẳng và phát triển đầy đủ, tham gia và hưởng lợi từ các hoạt động,

Đến nay, theo Uỷ ban CEDAW, đã có 186 quốc gia trên thế giới phê chuẩn hoặc ký kết công ước, chiếm hơn 90% thành viên Liên hợp quốc. Các nước phê chuẩn Công ước này được yêu cầu phải đưa bình đẳng giới vào pháp luật quốc gia, bãi bỏ mọi điều quy định phân biệt đối xử trong các luật của mình,và ban hành các quy định mới để bảo vệ chống phân biệt đối xử với phụ nữ. Thêm vào đó, các quốc gia phải cam kết không những bảo đảm bằng pháp luật hiện hành mà còn phải có những hành động cần thiết để phụ nữ được hưởng sự bình đẳng.

Sự ra đời của Công ước CEDAW là kết quả hơn 30 năm đấu tranh của Uỷ ban về địa vị phụ nữ Liên hợp quốc (CSW). Uỷ ban được thành lập năm 1946 nhằm giám sát địa vị và nâng cao quyền lợi của phụ nữ. Hoạt động của Uỷ ban đã góp phần thúc đẩy bình đẳng giới ở những nơi mà phụ nữ chưa được bình quyền như nam giới. Kết quả của những nỗ lực vì sự tiến bộ của phụ nữ là sự ra đời một số tuyên bố và điều ước quốc tế, trong đó CEDAW là văn kiện quan trọng và toàn diện nhất về quyền bình đẳng của phụ nữ. Công ước là công cụ quốc tế duy nhất có thể giải quyết một cách toàn diện quyền của phụ nữ trong khuôn khổ đời sống chính trị, dân sự, văn hóa, kinh tế và xã hội.

Bố cục nội dung của Công ước CEDAW gồm Lời nói đầu, 6 Phần, 30 Điều. Phần I của Công ước CEDAW gồm có 6 điều. Tại Điều 1, thuật ngữ "phân biệt đối xử chống lại phụ nữ" được định nghĩa, đó là bao gồm bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào dựa trên cơ sở giới tính có tác dụng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hóa việc phụ nữ được công nhận, hưởng thụ hay thực hiện các quyền con người và những tự do cơ bản trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, dân sự hay bất kể lĩnh vực nào khác và trên cơ sở bình đẳng nam nữ, bất kể tình trạng hôn nhân của họ như thế nào. Điều 2 của Công ước thể hiện sự lên án mạnh mẽ của các quốc gia thành viên đối với sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ; ghi nhận 07 nguyên tắc cơ bản về chính sách và các biện pháp để xóa bỏ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ như: Nguyên tắc bình đẳng nam nữ phải được ghi nhận trong hiến pháp và các văn bản pháp luật khác của quốc gia cũng như quy định các biện pháp, chế tài để ngăn cấm và xử lý tất cả hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ; đảm bảo việc bảo vệ các quyền của phụ nữ một cách có hiệu quả thông qua hệ thống tư pháp và đảm bảo hệ thống cơ quan công quyền khác cũng hành động tương tự; tiến hành các biện pháp thích hợp nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ do bất kỳ cá nhân, tổ chức hoặc doanh nghiệp nào tiến hành; sửa đổi, hủy bỏ các quy định, tập quán đã tạo sự phân biệt đối xử với phụ nữ; trấn áp tất cả các hình thức buôn bán phụ nữ và bóc lột mại dâm phụ nữ...

Phần II của Công ước đề cập vấn đề bảo đảm sự bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ trong lĩnh vực chính trị. Theo đó, các quốc gia thành viên phải tiến hành tất cả những biện pháp thích hợp nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ trong đời sống chính trị và công cộng của đất nước. Cụ thể là đảm bảo cho phụ nữ dược bình đẳng với nam giới trong việc thực hiện các quyền cơ bản: Được bỏ phiếu trong tất cả các cuộc bầu cử, trưng cầu ý dân, được ứng cử vào tất cả các cơ quan dân cử; được tham gia trong việc xây dựng và thực hiện chính sách của chính phủ, tham gia các chức vụ và thực hiện tất cả các chức năng công cộng ở tất cả các cấp chính quyền; được tham gia những tổ chức và hiệp hội phi chính phủ liên quan đến đời sống công cộng và chính trị của đất nước. Trong phần này, Công ước CEDAW còn quy định về nghĩa vụ của các quốc gia thành viên phải dành cho phụ nữ cơ hội trở thành đại diện của chính phủ tại các tổ chức quốc tế trên cơ sở bình đẳng với nam giới; đảm bảo việc thực hiện các quyền về quốc tịch của phụ nữ và của con cái họ.

Từ Điều 10 đến Điều 14 thuộc phần III của Công ước, là các quy định về nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc đảm bảo cho phụ nữ được bình đẳng về các quyền trong lĩnh vực giáo dục, việc làm, chăm sóc sức khỏe và trong các lĩnh vực khác của đời sống kinh tế, xã hội. Đặc biệt, tại Điều 14 Công ước lưu ý các quốc gia thành viên phải xem xét những vấn đề đặt ra đối với phụ nữ nông thôn và vai trò quan trọng của phụ nữ nông thôn trong đời sống kinh tế của gia đình họ; có biện pháp thích hợp để xóa bỏ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ ở nông thôn, đảm bảo sự bình đẳng của phụ nữ với nam giới trong việc tham gia phát triển nông thôn và được hưởng lợi từ sự phát triển đó, nhất là về: Tham gia xây dựng và thực hiện những kế hoạch phát triển; được tiếp cận các cơ sở chăm sóc sức khỏe đầy đủ, kể cả thông tin, tư vấn và những dịch vụ kế hoạch hóa gia đình; được hưởng lợi từ những chương trình bảo hiểm xã hội, từ các loại hình giáo dục, đào tạo; bình đẳng về cơ hội có việc làm; được tham gia tất cả các hoạt động cộng đồng...

Phần IV của Công ước CEDAW gồm 2 điều, quy định về việc đảm bảo cho phụ nữ sự bình đẳng với nam giới trước pháp luật cả về pháp luật dân sự, trong hoạt động tố tụng, quyền tự do về đi lại, lựa chọn nơi cư trú, chỗ ở... Các quốc gia thành viên phải áp dụng tất cả những biện pháp thích hợp để xóa bỏ sự phân biệt chống lại phụ nữ trong tất cả các vấn đề liên quan đến hôn nhân, quan hệ gia đình. Đáng chú ý là tại khoản 2 Điều 16, Công ước nêu rõ: Việc hứa hôn và kết hôn trẻ em phải bị coi là không có hiệu lực pháp lý và tất cả các hành động cần thiết, kể cả luật pháp phải được tiến hành nhằm quy định tuổi tối thiểu có thể kết hôn và bắt buộc phải đăng ký kết hôn chính thức.

Phần V (từ Điều 17 đến Điều 22) Công ước quy định chi tiết về việc thiết lập và các chức năng, nhiệm vụ, hoạt động của Ủy ban về xóa bỏ phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (Ủy ban CEDAW). Phần VI (từ Điều 23 đến Điều 30) Công ước đề cập sự cam kết của các quốc gia thành viên về việc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ được công nhận trong Công ước; quy định về thủ tục phê chuẩn, gia nhập Công ước; về giải quyết tranh chấp giữa hai hay nhiều quốc gia xung quanh việc giải thích và áp dụng Công ước; về quyền và thủ tục đề nghị sửa đổi, bổ sung Công ước; về hiệu lực của Công ước...

2. Quá trình thực thi công ước CEDAW của Việt Nam

Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ký kết tham gia công ước vào ngày 29/07/1980 và được phê chuẩn vào 27/11/1981. Từ khi tham gia công ước, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc nội luật hóa CEDAW, xây dựng pháp luật về bình đẳng giới, tích cực tổ chức thực hiện và hoàn thành các báo cáo định kỳ về tình hình thực hiện Công ước để trình lên Tổng thư ký Liên hợp quốc. Ủy ban CEDAW khen ngợi những thành tựu và nỗ lực của Việt Nam trong việc thực hiện Công ước CEDAW, kể từ khi Ủy ban xem xét báo cáo ghép định kỳ lần thứ 05 và 06 vào năm 2006 của Việt Nam. Với sự thay đổi tiến bộ của pháp luật, vai trò và địa vị của người phụ nữ trong xã hôi Việt Nam ngày càng được nâng cao. Từ một nhóm yếu thế, nay những người phụ nữ đã có cơ hội tự do phát triển và khẳng định vị trí của mình trong xã hội.

Nhận thấy Công ước này hoàn toàn phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về bình đẳng nam nữ, việc ký kết và phê chuẩn Công ước là cam kết có tính pháp lý của Việt Nam trước Liên hợp quốc và các quốc gia thành viên bảo đảm cho phụ nữ các quyền bình đẳng theo các chuẩn mực quốc tế. Đồng thời qua đó thể hiện quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ trong các hoạt động của đời sống xã hội – đúng như tên gọi của Công ước.

Để tổ chức thực hiện có hiệu quả Công ước, vấn đề mấu chốt là tinh thần và nội dung của CEDAW phải được phản ánh đúng đắn, đầy đủ, phù hợp trong pháp luật quốc gia. Chính vì vậy, việc “nội luật hoá” CEDAW đã được Đảng, Nhà nước và các Bộ ngành liên quan hết sức quan tâm trong thời gian vừa qua. Và kết quả là, Việt Nam được ca ngợi, được coi là điểm sáng, là một trong những nước có hệ thống luật pháp tốt nhất về quyền bình đẳng cho phụ nữ.

Xuất phát từ quan điểm nhất quán, đúng đắn của Đảng về xây dựng phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Đảng. Vì thế, Đảng đã ban hành rất nhiều các văn bản liên quan đến đội ngũ cán bộ nữ, trong đó có thể kể tới một NQ rất qua trọng đó là Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó nhấn mạnh “Phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội là một trong những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới”. Các chỉ tiêu cụ thể của Nghị quyết 11-NQ/TW gồm: "Cần bảo đảm tỷ lệ nữ tham gia các khóa đào tạo tại các trường lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước từ 30% trở lên", "Phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp từ 35% đến 40%. Các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ. Cơ quan lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quốc hội, Chính phủ có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới"; Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 20/01/2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới, trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW; Công văn số 3294-CV/BTCTW ngày 26/7/2017 của Ban Tổ chức Trung ương Đảng hướng dẫn một số nội dung về công tác quy hoạch cán bộ nhiệm kỳ 2020 - 2025 và các chức danh lãnh đạo quản lý cơ quan nhà nước nhiệm kỳ 2021 - 2026 và các nhiệm kỳ tiếp theo, trong đó có quy định cán bộ nữ được kéo dài tuổi công tác theo quy định thì thời điểm tính độ tuổi quy hoạch như nam giới, các Bộ, ngành, địa phương đang triển khai các giải pháp nhằm thúc đẩy bình đẳng giới, góp phần tích cực vào việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị cho giai đoạn tiếp theo.

Trên cơ sở đó, nhà nước đã thể chế hoá thành các quy định để đưa vào thực tiễn thực hiện. Chính sách, pháp luật Việt Nam hiện nay đã cụ thể hóa Công ước quốc tế CEDAW và thể hiện đầy đủ 8 lĩnh vực của BĐG: chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, văn hóa – thông tin – thể dục – thể thao, y tế, gia đình. Theo Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, trong 25 năm trở lại đây Quốc hội đã thông qua 188 bộ luật và luật. Có rất nhiều nội dung liên quan tới quyền lợi phụ nữ được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật về dân sự, hình sự, lao động, giáo dục, sức khoẻ, hôn nhân gia đình, quốc tịch, bầu cử v.v…Trong đó, có các văn bản đáng lưu ý như sau:

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Điều 26 quy định công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới.

Luật Phòng, chống bạo lực trong gia đình (2007). Luật này quy định những biện pháp ngăn ngừa và chống bạo lực trong gia đình, đồng thời xác định chi tiết những hành vi về bạo lực trong gia đình.

Trong lĩnh vực y tế, theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm (2009), tại Điều 3 quy định “bình đẳng, công bằng và không kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người bệnh”. Về giáo dục, tại khoản 1 Điều 13 Luật Giáo dục năm 2019 quy định: “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân. Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, đặc điểm cá nhân, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập”. Một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình được quy định rõ tại khoản 1 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là “vợ chồng bình đẳng”.

Luật Bảo hiểm xã hội (2014), có hiệu lực từ năm 2016 có những tiến bộ quan trọng về bình đẳng giới trong chế độ thai sản. Lần đầu tiên từ khi có chính sách BHXH, nam giới được hưởng chế độ nghỉ thai sản khi vợ sinh con với nhiều mức hưởng khác nhau, từ 7 tới 14 ngày làm việc tùy thuộc vào số con được sinh và phương thức sinh. Đặc biệt trong trường hợp người mẹ không đủ thời gian đóng BHXH hoặc không tham gia BHXH thì người cha được nghỉ đến khi con đủ 6 tháng tuổi. Chính sách tiến bộ này tạo điều kiện thúc đẩy nam giới tham gia công việc gia đình và chăm sóc, cải thiện từng bước bình đẳng giới trong lĩnh vực này

Luật đất đai (2013). Luật quy định quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Trường hợp chỉ ghi tên của một người thì phải có văn bản xác nhận sự đồng ý của người kia.

Luật hôn nhân và gia đình (2014). Luật này quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong sở hữu và thừa kế trong các trường hợp ly hôn và qua đời. Tuy nhiên, trong Luật này vẫn còn một số quy định phân biệt đối xử về giới, cụ thể quy định tuổi hôn nhân tối thiểu khác nhau cho phụ nữ và nam giới. Mặc dù Luật đã loại bỏ việc cấm hôn nhân đồng tính, tuy nhiên vẫn tiếp tục quy định hôn nhân là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ. Luật quy định không cấp giấy chứng nhận kết hôn đồng tính, có nghĩa là những cuộc hôn nhân đồng tính sẽ không thể có đăng ký kết hôn và không được ghi nhận trong đăng ký hộ khẩu của hộ gia đình.

Bộ luật Dân sự (2015). Điều 36 và 37 của luật này cho phép hợp pháp hóa việc chuyển đổi giới tính và cho phép các cá nhân đã phẫu thuật chuyển đổi giới tính được thay đổi lời khai về giới tính trong các giấy tờ chính thức của họ.

Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân (2015). Luật này đưa ra chỉ tiêu về ứng cử viên nữ. Cụ thể, Điều 8 khoản 3 của Luật quy định “ Số lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do Ủy ban thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn chủ tịch Ban chấp hành trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, bảo đảm có ít nhất ba mươi lăm phần trăm tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ.

Luật Cán bộ, Công chức (2008). Điều 5 Luật này quy định về các nguyên tắc quản lý cán bộ, công chức, trong đó có nguyên tắc “Thực hiện bình đẳng giới”. Điều 18 quy định hững việc cán bộ, công chức không được làm liên quan đến đạo đức công vụ, trong đó không được “Phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức”. Điều 53, khoản 6 quy định “Không thực hiện biệt phái công chức nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi”. Điều 59 Khoản 4 quy định “Không giải quyết thôi việc đối với công chức nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, trừ trường hợp xin thôi việc theo nguyện vọng”.

Luật Viên chức (2010). Điều 5 quy định các nguyên tắc trong quản lý viên chức, trong đó “thực hiện bình đẳng giới”. Điều 19 quy định những việc viên chức không được làm, trong đó không được “phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, ...”. Điều 29, khoản 1 của Luật này quy định những trường hợp người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập không được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức, trong đó có trường hợp “viên chức nữ đang trong thời gian có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 36 tháng tuổi, trừ trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập chấm dứt hoạt động. Điều 29 khoản 3 quy định những trường hợp viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, trong đó có trường hợp “Viên chức nữ có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở chữa bệnh”. Điều 36 quy định biệt phái viên chức, khoản 7 quy định trường hợp “Không thực hiện biệt phái viên chức nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi”.

Luật ngân sách Nhà nước (2015). Điều 8 Khoản 5 của Luật nêu rõ một trong những nguyên tắc của quản lý Ngân sách nhà nước là “đảm bảo ưu tiên bố trí ngân sách thực hiện mục tiêu bình đẳng giới”. Điều 41 của Luật này cũng quy định một trong những căn cứ để lập dự toán ngân sách nhà nước hàng năm là nhiệm vụ bình đẳng giới.

Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (2017). Điều 3 Khoản 1 quy định Doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ là doanh nghiệp nhỏ và vừa có một hoặc nhiều phụ nữ sở hữu từ 51% vốn điều lệ trở lên, trong đó có ít nhất một người quản lý điều hành doanh nghiệp đó. Trường hợp nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng đáp ứng điều kiện hỗ trợ thì ưu tiên lựa chọn doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ, doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nhiều lao động nữ hơn.

Trong lĩnh vực lao động, khoản 7 Điều 4 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: “Bảo đảm Bình đẳng giới; quy định chế độ lao động và chính sách xã hội nhằm bảo vệ lao động nữ, lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi, lao động chưa thành niên”. Ngoài ra, Bộ luật Lao động còn có một chương dành riêng cho lao động nữ và vấn đề BĐG nhằm bảo vệ sức khỏe sinh sản của họ trong khi làm việc (Chương X).

Đặc biệt, một trong những văn bản quan trọng nổi bật là ngày 29/11/2006, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Bình đẳng giới. Luật Bình đẳng giới ra đời vừa thể hiện đường lối nhất quán của Đảng, Nhà nước ta đối với công tác phụ nữ, vừa tuân thủ chặt chẽ những quy định của Công ước CEDAW. Cả 3 nguyên tắc cơ bản của Công ước là bình đẳng, không phân biệt đối xử và trách nhiệm quốc gia đã được phản ánh trong Điều 6 về các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới. Lần đầu tiên, các khái niệm quan trọng đã được đưa vào Luật như giới, phân biệt đối xử về giới, lồng ghép giới, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới…Cũng lần đầu tiên, nội dung quản lý nhà nước về bình đẳng giới được pháp điển hoá. Luật Bình đẳng giới đưa ra các quy định rất cụ thể, chi tiết về bình đẳng giới trong các lĩnh vực, đi kèm theo đó là các hành vi vi phạm, các hình thức xử lý vi phạm phù hợp với tinh thần của CEDAW. Sau khi có Luật bình đẳng giới (2006), việc lồng ghép giới đã trở thành một quy trình, thủ tục pháp lý bắt buộc khi xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc thúc đẩy bình đẳng giới thực chất và toàn diện hơn ở Việt Nam. Hiện nay, tại Việt Nam mọi hành vi phân biệt đối xử đối với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ đều bị cấm, Nhà nước và xã hội đã tạo mọi điều kiện để phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng của mình trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, nhiều chuẩn mực, nguyên tắc của CEDAW đã được thể hiện trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Trên bình diện chính sách, Đảng và Nhà nước ta đã có những nỗ lực rất đáng ghi nhận như ban hành:

- Chương trình hành động của Chính phủ giai đoạn đến năm 2020 thực hiện Nghị quyết 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (ban hành theo Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 01/12/2009 của Chính phủ);

- Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 (ban hành theo Quyết định số 2351/QĐ- TTg ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ). Mục tiêu tổng quát của Chiến lược là đến năm 2020, về cơ bản, bảo đảm bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Chiến lược đặt ra 7 mục tiêu và 22 chỉ tiêu cần phấn đấu đạt được đến năm 2020.

- Đề án Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2017-2025 (ban hành theo Quyết định số 939/QĐ-TTg ngày 30/06/2017 của Thủ tướng Chính phủ). Mục tiêu chung của Đề án nhằm nâng cao hiểu biết của phụ nữ về chủ trương, chính sách pháp luật nhằm thay đổi nhận thức, khơi dậy tinh thần khởi nghiệp, tiềm năng, sức sáng tạo của phụ nữ; thúc đẩy hiện thức hóa các ý tương kinh doanh và sự phát triển của các doanh nghiệp khởi nghiệp của phụ nữ.

- Đề án Tuyên truyền, giáo dục, vận động, hỗ trợ phụ nữ tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ giai đoạn 2017-2027(ban hành theo Quyết định số 938/QĐ-TTg ngày 30/06/2017 của Thủ tướng Chính phủ).

- Đề án Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2018-2025 (ban hành theo Quyết định số 1989/QĐ-TTg ngày 28/11/2017 của Thủ tướng Chính phủ).

- Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện chương trình Nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững (ban hành theo Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/05/2017 của Thủ tướng Chính phủ). Kế hoạch hành động gồm 17 mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam đến năm 2030 bao gồm 115 mục tiêu cụ thể, tương ứng với các mục tiêu phát triển bền vững toàn cầu được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh Liên Hợp Quốc vào tháng 9 năm 2015. Bên cạnh Mục tiêu số 5 về bình đẳng giới; tăng quyền và tạo cơ hội cho phụ nữ và trẻ em gái, một số mục tiêu khác trong Kế hoạch hành động có liên quan chặt chẽ đến thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam.

Trải qua 25 năm thực hiện Công ước, quyền bình đẳng thực chất của phụ nữ theo yêu cầu của CEDAW ngày càng được bảo đảm hơn. Nhận thức xã hội về bình đẳng giới đã có sự cải thiện. Chúng ta đã từng bước khắc phục tệ phân biệt đối xử với phụ nữ từ trong gia đình ra đến ngoài xã hội. Việt Nam là một trong những quốc gia đạt tỷ lệ phụ nữ tham gia hoạt động kinh tế cao nhất thế giới – 83% so với nam giới là 85%. Nghị quyết các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc những năm vừa qua đều có mục đề cập trực tiếp tới công tác phụ nữ, làm cơ sở cho các chỉ thị, nghị quyết của Đảng cũng như chủ trương chính sách của Nhà nước và các ngành, các cấp. Bộ máy vì sự tiến bộ phụ nữ đã được hình thành và đi vào hoạt động ở 47 bộ ngành cơ quan Trung ương và 63 tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Phong trào phụ nữ có nhiều khởi sắc. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam các cấp triển khai nhiều biện pháp thiết thực đã làm tốt vai trò đại diện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho phụ nữ. Hội cũng chính là thành viên tích cực thay mặt cho chị em phụ nữ tham gia xây dựng và thực hiện chương trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và các địa phương. Đóng góp nổi bật của Hội phụ nữ trong lĩnh vực lập pháp là việc đề xuất sáng kiến và chủ trì xây dựng Luật Bình đẳng giới nêu trên.

Một trong những chỉ số quan trọng đo lường mức độ bình đẳng giới đó là là Chỉ số phát triển giới (Gender Development Index - GDI) được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1995 trong Báo cáo phát triển con người. Chỉ số được tính dựa trên 3 khía cạnh chính bao gồm: sức khoẻ (tuổi thọ); giáo dục (số năm đi học theo mong muốn, số năm đi học trung bình); và thu nhập (ước tính GDP bình quân/người). GDI được tính cho 166 quốc gia.Theo Báo cáo Phát triển con người năm 2016 của UNDP, chỉ số GDI của Việt Nam là 1,010, xếp thứ 115 trong tổng số trên 177 quốc gia tham gia xếp hạng. Việt Nam được xếp ở nhóm 1 trong 5 nhóm được xếp hạng về bình đẳng giới (Nhóm 1 gồm các quốc gia có tình trạng bình đẳng giới tốt nhất trên thế giới). Năm 2018 giá trị GDI của Việt Nam là 1,003, đưa Việt Nam vào Nhóm 1 (đứng đầu trong năm nhóm). So với đó, giá trị GDI của Malaysia, Trung Quốc, Indonesia, Philippines và Thái Lan lần lượt là 0,972, 0,961, 0,937, 1,004 và 0,995. Giá trị GDI của Việt Nam cũng cao hơn giá trị GDI trung bình của các quốc gia Phát triển Con người Cao (0,96), các quốc gia Phát triển Con người Trung bình (0,845), và nhóm Đông Á và Thái Bình Dương (0,962).

Theo Báo cáo của Ngân hàng thế giới đã đánh giá Việt Nam là một trong các quốc gia Đông Á có tốc độ khắc phục cách biệt giới nhanh nhất trong vòng 20 năm trở lại đây. Minh chứng cụ thể cho nhận định này là những thành tựu có tính thuyết phục cao: giảm nửa số dân diện nghèo đói qua 20 năm, gần đạt bình đẳng nam nữ trong giáo dục cơ sở, đứng thứ 18 trên toàn cầu về tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội với 27,3%…

Bên cạnh những thành tích đạt được, chúng ta cũng phải thẳng thắn thừa nhận rằng, cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, việc thực hiện Công ước CEDAW ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Một số quy định của pháp luật, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước đối với phụ nữ chưa được thực hiện nghiêm túc. Tình trạng định kiến, phân biệt đối xử với phụ nữ ở nơi này, nơi khác vẫn còn. Tệ ngược đãi phụ nữ, mại dâm, buôn bán phụ nữ trẻ em, bệnh dịch HIV/AIDS, tệ nạn xã hội…vẫn đang diễn biến phức tạp. Thực tế đó dẫn tới mức độ thụ hưởng quyền bình đẳng của phụ nữ ngoài xã hội cũng như trong phạm vi gia đình chưa cao. Nhận xét về Việt Nam, Uỷ ban Công ước cho rằng:“Nền văn hoá mang đậm tính gia trưởng và việc đề cao vai trò truyền thống của nam giới và phụ nữ là những trở ngại đối với việc thực hiện đầy đủ CEDAW”. Điều này cho thấy nhiệm vụ giáo dục, nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong cán bộ và nhân dân cần được quan tâm hơn nữa. Công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ ở các ngành, các cấp cần tập trung vào khắc phục sự cách biệt giới hiện đang tồn tại trong các lĩnh vực đồng thời phòng ngừa, giải quyết có hiệu quả các tệ nạn xã hội đang tác động tới phụ nữ.

Xuất phát từ thực trạng trên, một số giải pháp bảo đảm bình đẳng giới trong thực thi chính sách, pháp luật Việt Nam hiện nay là:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về BĐG trong chính sách, pháp luật ở Việt Nam.

Báo cáo chỉ số BĐG toàn cầu 2018, dựa vào kết quả đánh giá 149 quốc gia về tiến bộ BĐG, Việt Nam xếp thứ 77/149 quốc gia. Thành tựu này chứng minh những kết quả quan trọng trong bảo đảm BĐG ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, để thúc đẩy hơn nữa vấn đề bảo đảm BĐG của Việt Nam, cần nâng cao nhận thức của các cá nhân, cơ quan (xây dựng pháp luật) về vấn đề này. Việc nâng cao có thể thực hiện thông qua truyền thông, tập huấn phổ biến kiến thức về BĐG, lồng ghép trong các chương trình đạo tạo của các trường học.

Thứ hai, thúc đẩy lồng ghép BĐG trong xây dựng chính sách, pháp luật. Nội dung lồng ghép vấn đề BĐG trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, gồm: (1) Xác định nội dung liên quan đến vấn đề BĐG hoặc vấn đề bất BĐG, phân biệt đối xử về giới. (2) Quy định các biện pháp cần thiết để thực hiện BĐG hoặc để giải quyết vấn đề bất BĐG, phân biệt đối xử về giới; dự báo tác động của các quy định đó đối với nam và nữ sau khi được ban hành. (3) Xác định nguồn nhân lực, tài chính cần thiết để triển khai các biện pháp thực hiện BĐG hoặc để giải quyết vấn đề bất BĐG, phân biệt đối xử về giới.

Trong chính sách, pháp luật Việt Nam hiện nay, xác định nội dung liên quan đến BĐG, phân biệt đối xử về giới còn có những điểm chưa đầy đủ, ví dụ, quy định việc nghỉ sinh, chăm sóc con sau sinh hầu hết thuộc về người phụ nữ, nam giới chỉ có điều kiện tham gia vào thời gian ít ỏi của buổi tối. Về đánh giá tác động của biện pháp BĐG còn hình thức, thiếu những thông tin khoa học, khách quan. Vì vậy, xây dựng chính sách pháp luật phải luôn coi trọng lồng ghép BĐG nhằm thu hẹp khoảng cách giữa các nhóm khác nhau trong xã hội, hướng đến bảo đảm quyền con người trong mọi lĩnh vực của đời sống.

Thứ ba, thúc đẩy thực thi chính sách, pháp luật về BĐG của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội. Bảo đảm BĐG trong xây dựng pháp luật vẫn là chưa đủ, bởi vì đó mới là tiền đề, còn giải pháp quan trọng phải duy trì là mỗi người dân phải nỗ lực nghiêm chỉnh thực hiện các chính sách bảo đảm BĐG đã được quy định. Trong lĩnh vực đất đai quy định “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải được ghi tên của cả vợ và chồng”, nhưng thực tế vấn đề này còn “xa vời” đối với nhiều chị em ở các địa phương hiện nay. Lý do có thể họ chưa biết về quyền của mình hoặc sự ảnh hưởng mạnh mẽ của tập quán, luật tục địa phương cũng là một rào cản.

Thứ tư, thúc đẩy việc đôn đốc, theo dõi thi hành chính sách, pháp luật về BĐG của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Một trong những giải pháp then chốt góp phần bảo đảm BĐG trong chính sách pháp luật là phải nâng cao ý thức, trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp) trong theo dõi, thi hành pháp luật. Trong quá trình theo dõi, thi hành pháp luật, nếu phát hiện những vi phạm về bảo đảm BĐG thì phải xử lý nghiêm minh.

Thứ năm, thúc đẩy xóa bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu cản trở việc thực hiện chính sách, pháp luật về BĐG. Định kiến xã hội (phong tục tập quán lạc hậu) là yếu tố chủ yếu dẫn đến tình trạng bất bình đẳng. Trong xã hội Việt Nam tồn tại nhiều tư tưởng, tập quán lạc hậu như: trọng nam khinh nữ, tư tưởng gia trưởng… đã hạn chế bảo đảm BĐG ở nước ta hiện nay. Ví dụ, để bảo đảm BĐG trong lĩnh vực thừa kế, cần loại bỏ định kiến “con gái là con người ta” để thực hiện việc chia tài sản thừa kế như nhau đối với con trai và con gái.

Thứ sáu, khôi phục các hương ước tiến bộ, phù hợp có tác dụng thúc đẩy thực hiện BĐG trong chính sách, pháp luật. Bên cạnh những định kiến xã hội, trong cộng đồng còn duy trì nhiều hương ước tiến bộ, phù hợp có tác dụng thúc đẩy BĐG, như: thực hiện BĐG, phòng và chống bạo lực gia đình. Ví dụ, tại Điều 11- Hương ước thôn Lương Thịnh, ban hành kèm theo Quyết định số 1932/QĐ-UBND ngày 17/9/2018 của Ủy ban nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa là một ví dụ điển hình. Tại Hương ước này quy định:

1) Tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình nâng cao nhận thức, hiểu biết và tham gia các hoạt động về BĐG, phòng và chống bạo lực gia đình. Các cá nhân, đặc biệt là nam giới cần tích cực chủ động tham gia các phong trào xã hội ở địa phương, sinh hoạt câu lạc bộ, học tập kiến thức về gia đình, về BĐG, các quyền của phụ nữ và phòng, chống bạo lực trong gia đình thông qua truyền thông. Bản thân người phụ nữ cần hiểu được quyền và trách nhiệm của mình trong công tác BĐG và phòng, chống bạo lực gia đình. Cần có kiến thức cũng như kỹ năng phòng tránh, tự bảo vệ mình và các con trước khi có sự trợ giúp từ phía các đoàn thể xã hội.

2) Giáo dục các thành viên trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ và phân công hợp lý công việc gia đình; thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, BĐG, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác.

3) Đối xử công bằng, tạo cơ hội như nhau giữa con trai, con gái trong học tập, lao động và tham gia các hoạt động khác.

Sau một phần tư thế kỷ tham gia CEDAW, Việt Nam đã và đang thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quốc gia đối với Công ước và đạt những thành tựu rất đáng khích lệ. Đó là cơ sở vững chắc để Nhà nước và nhân dân ta quyết tâm phấn đấu cho sự nghiệp bình đẳng giới và tiến bộ cho phụ nữ Việt Nam và hoàn thành Mục tiêu Thiên niên kỷ mà Việt Nam đã cam kết với cộng đồng quốc tế.

 

Tài liệu tham khảo

1. Công ước CEDAW;

2. Báo cáo Phát triển con người năm 2019, Bất bình đẳng trong Phát triển con người ở thế kỷ 21, Báo cáo tóm tắt dành cho Việt Nam, UNDP

3. Sổ tay về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, 2018.

4. Thực tiễn hơn 25 năm thực hiện Công ước CEDAW ở Việt Nam, Trần Thị Mai Hương, 2016, UBQGVSTBPN.

 

 

 

Joomla inotur picma