BÁO CÁO CHÍNH TRỊ TẠI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ II CỦA ĐẢNG

Email In PDF.

BÁO CÁO CHÍNH TRỊ TẠI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ II CỦA ĐẢNG

Ths. Nguyễn Bình Minh

Phó trưởng khoa Lý luận cơ sở

Năm 2021 là năm kỷ niệm nhiều sự kiện quan trọng đối với bước ngoặt của Cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng ta lãnh đạo đến nay: Kỷ niệm 110 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (05/6/1911 – 05/6/2021), kỷ niệm 80 năm ngày Bác Hồ về nước (28/01/1941 – 28/01/2021) và bên cạnh đó không thể không nhắc tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2/1951) (gọi tắt là Đại hội II).

Đại hội II họp tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang trong 19 ngày. Đại hội đã thảo luận, bổ sung Dự thảo Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trong những ngày trù bị. Đại hội họp từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951. Dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức, 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho hơn 766.000 đảng viên trong toàn Đảng. Đến dự Đại hội còn có đại biểu của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Thái Lan. Sau Diễn văn khai mạc của đồng chí Tôn Đức Thắng, Đại hội đã nghiên cứu và thảo luận nhiều văn kiện quan trọng như Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam của đồng chí Trường ChinhBáo cáo về tổ chức và Điều lệ Đảng của đồng chí Lê Văn Lương, các báo cáo bổ sung về Mặt trận dân tộc thống nhất, chính quyền dân chủ nhân dân, quân đội nhân dân, kinh tế tài chính và về văn nghệ… Và không thể không nhắc tới Báo cáo Chính trị tại Đại hội. Báo cáo Chính trị được thông qua tại Đại biểu toàn quốc lần thứ II (gọi tắt là Báo cáo Chính trị) do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo là văn kiện lịch sử có ý nghĩa, giá trị to lớn với cách mạng Việt Nam. Qua 70 năm, nội dung của Báo cáo Chính trị vẫn sáng bừng, sống động trong tâm thức mỗi chúng ta.

Báo cáo Chính trị gồm 10 nội dung chính: “1. Tình hình thế giới trong 50 năm qua”, “2. Đảng ta ra đời”, “3. Thời kỳ 1931 – 1935”, “4. Thời kỳ 1936 – 1939”, “5. Thời kỳ 1939 – 1945”, “6. Từ Cách mạng Tháng Tám đến nay”, “7. Những khó khăn của Đảng và Chính phủ”, “8. Cuộc trường kỳ kháng chiến”, “9. Sửa chữa những khuyết điểm sai lầm”, “10. Tình hình mới và nhiệm vụ mới”. Như vậy là với một báo cáo chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát bối cảnh thế giới trong nửa thế kỷ thứ XX, khái quát quá trình cách mạng từ khi Đảng ta ra đời (1930) đến năm 1951, khái quát khó khăn thách thức, những khuyết điểm sai lầm đã vấp phải, từ đó dự báo tình hình và vạch ra nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng tiếp theo.

Trong nội dung thứ nhất “Tình hình thế giới trong 50 năm qua”, chỉ với khoảng 360 chữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát bối cảnh thế giới trong nửa thế kỷ, và khẳng định “Tháng đầu năm 1951 là lúc khóa sổ nửa trước và mở màn nửa sau của thế kỷ XX. Nó là lúc rất quan trọng của lịch sử loài người”[1]. Trong nửa đầu thế kỷ XX, thế giới đã chứng kiến những biến đổi mau chóng hơn và quan trọng hơn nhiều thế kỷ trước cộng lại. Người đã nhắc đến những phát minh khoa học như chiếu bóng, vô tuyến điện, vô tuyến truyền hình, “sức nguyên tử”. Loài người đã tiến bước dài trong việc điều khiển sức thiên nhiên. Về mặt chính trị thì chủ nghĩa tư bản đã chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang đế quốc chủ nghĩa. 50 năm đã diễn ra hai cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai. Trên thế giới đã xuất hiện một cuộc cách mạng vô sản thành công “đến nơi”, đó là Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) vĩ đại, từ đó ra đời Liên Xô – Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới – thành trì của hòa bình thế giới. Bên cạnh đó ở Phương Đông, cách mạng trung Quốc đã thắng lợi năm 1949, phong trào công nhân ở các nước đế quốc dâng cao. Lồng trong bối cảnh thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc tới sự kiện Đảng ta ra đời, đến thời điểm đó đã 21 tuổi, nước được độc lập, đã được năm thứ 7, cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp diễn ra 5 năm. Người đã dự đoán nửa thế kỷ sau của thế kỷ XX sẽ có những biến đổi lớn hơn, vẻ vang hơn. Thời gian thực sự là nhà phê bình xuất sắc nhất. Nửa cuối thế kỷ XX đã diễn ra theo đúng những gì Chủ tịch Hồ Chí Minh dự đoán từ giữa thế kỷ. Đó là sự vùng lên mạnh mẽ, sự thắng lợi của các dân tộc thuộc địa, sự phát triển của phong trào đòi độc lập, dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.

Nội dung phần 2, 3 , 4, 5, 6 của Báo cáo Chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát về phong trào cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng ta lãnh đạo đến thời điểm đó. Từ cao trào cách mạng 1931 – 1935, thời kỳ 1936 – 1939, thời kỳ 1939 – 1945 và thời kỳ Cách mạng Tháng Tám đến năm 1951.

Báo cáo Chính trị đã khái quát về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất họp ở Ma Cao “năm 1935, Đảng họp Đại hội lần thứ I ở Ma Cao. Đại hội nhận định tình hình trong nước và tình hình thế giới, kiểm thảo lại công tác đã qua và ấn định chương trình cho công tác sắp tới. Nhưng chính sách của Đại hội Ma Cao vạch ra không sát với phong trào cách mạng thế giới và trong nước lúc bấy giờ (như định chia ruộng đất cho công nhân nông nghiệp, chưa nhận rõ nhiệm vụ chống phát xít và nguy cơ chiến tranh phát xít...”[2]. Người đã khẳng định những bài học rút ra ở từng giai đoạn, đó là lòng trung thành, sự tận tụy của đảng viên, sự kiên quyết của Trung ương, sự giúp đỡ của các đảng bạn (thời kỳ 1931 – 1935); tránh những bệnh chủ quan, hẹp hòi, bệnh công khai, say sưa vì thắng lợi bộ phận mà xao lãng việc củng cố tổ chức bí mật của Đảng; việc gì trúng với nguyện vọng nhân dân thì được quần chúng nhân dân ủng hộ và hăng hái đấu tranh; Đảng phải giải thích rõ lập trường của mình về vấn đề dân tộc độc lập (thời kỳ 1936 – 1939);...

Trong thời kỳ 1939 – 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch rõ vai trò, tầm quan trọng của Liên Xô trong Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, trong cổ vũ phong trào cách mạng phe dân chủ trên toàn thế giới “Nhờ Liên Xô thắng lợi mà các nước Đông Âu – trước đây là căn cứ của Đức phát xít hoặc là một bộ phận của Đức phát xít - đã trở thành nên những nước dân chủ mới. Nhờ Liên Xô thắng lợi mà những nước nửa thuộc địa – như Trung Quốc và những nước thuộc địa như Triều Tiên, Việt Nam đã đánh đuổi hoặc đang đánh đuổi bọn đế quốc xâm lăng, tranh lại tự do, độc lập. Nhờ Liên Xô thắng lợi mà phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa khác đang lên cao”[3]. Ở trong nước, Người đã điểm lại một vài nét chính mà như Người nói “Những việc biến đổi to lớn, trong nước và trên thế giới trong thời kỳ này chỉ cách đâu mười năm. Nhiều người biết, nhiều người còn nhớ. Ở đây tôi chỉ nhắc qua mấy việc chính”[4]. Đó là Hội nghị Trung ương lần thứ bảy tháng 11 – 1939 (quyết định chính sách lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp và chống chiến tranh đế quốc, chuẩn bị khởi nghĩa; không đề khẩu hiệu “tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày” để kéo tầng lớp địa chủ vào Mặt trận dân tộc); Hội nghị Trung ương lần thứ tám tháng 5 – 1941 (nhận định cuộc cách mạng trước mắt của Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc, lập Mặt trận Việt Minh; khẩu hiệu chính “Đoàn kết toàn dân, chống Nhật, chống Pháp, tranh lại độc lập; hoãn cách mạng ruộng đất”[5]); Hội nghị toàn quốc lần thứ hai của Đảng ở Tân Trào đầu tháng 8 – 1945 (quyết định chương trình hành động và tham gia Quốc dân đại hội do Việt Minh triệu tập); Quốc dân đại hội (thông qua Chương trình Việt Minh, Lệnh Tổng khởi nghĩa, bầu Ủy ban dân tộc giải phóng trung ương). Bài học kinh nghiệm được rút ra trong thời kỳ này là Đảng có chính sách đúng, thi hành chính sách ấy kịp thời và linh động; Việt Minh được nhân dân nhiệt liệt hoan nghênh, cán bộ đi sát với dân, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia; tranh thủ được thời cơ cách mạng khi ở ngoài thì có Liên Xô và Đồng minh liên tiếp thắng trận, trong nước thì Nhật và Pháp xung đột nhau. Do đó, Tổng khởi nghĩa Tháng Tám đã thành công.

Nội dung phần 6 Báo cáo Chính trị là thời kỳ “từ Cách mạng Tháng Tám đến nay”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát về ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 năm tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”[6]. Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đánh tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, đưa quyền lại cho nhân dân, xây nền tảng cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc. Đồng thời, Cách mạng Tháng Tám đã đưa Việt Nam trở thành một bộ phận trong “đại gia đình dân chủ thế giới”, cổ vũ phong trào hai dân tộc Miên và Lào. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nhấn mạnh đến gương của một số đồng chí trong Ủy ban Trung ương do Quốc dân đại hội bầu ra, đáng lẽ có mặt trong Chính phủ nhưng đã tự động xin rút lui, nhường chỗ cho những nhân sĩ yêu nước còn ở ngoài Việt Minh. Người khẳng định “Đó là một cử chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân. Đó là một cử chỉ đáng khen, đáng kính mà chúng ta phải học”[7].

Nội dung thứ 7 của Báo cáo Chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên những khó khăn của Đảng và Chính phủ. Đó là nạn đói cướp đi sinh mạng của hơn hai triệu đồng bào miền Bắc chỉ trong vòng hơn nửa năm (cuối năm 1944 đầu năm 1945). Đó là quân đội Anh kéo vào miền Nam Việt Nam, âm mưu giúp thực dân Pháp cướp lại nước ta; quân đội Quốc dân Đảng Trung Hoa kéo vào miền Bắc, thực chất có 3 mục đích: Tiêu diệt Đảng ta, phá tan Việt Minh, giúp bọn phản động Việt Nam đánh đổ chính quyền nhân dân, lập một chính phủ phản động làm tay sai cho chúng. Bài học đưa ra là Đảng đã không do dự, Đảng đã quyết đoán, mau chóng, dùng những phương pháp dù là những phương pháp đau đớn để cứu vãn tình thế (sự kiện Đảng ta tuyên bố tự giải tán, Hiệp định 6-3-1946, Tạm ước 14-9-1946). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc lại một lời dạy của Lênin “Nếu có lợi cho cách mạng thì dù phải thỏa hiệp với bọn kẻ cướp, chúng ta cũng thỏa hiệp”[8]. Chúng ta đã tranh thủ thời gian gần một năm hòa bình để xây dựng lực lượng căn bản. Khắc phục những khó khăn, Đảng và Chính phủ vẫn lãnh đạo nhân dân thực hiện nhiều điểm của Chương trình Việt Minh.

Cuộc trường kỳ kháng chiến được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát trong nội dung thứ 8 của Báo cáo Chính trị. Trong thời kỳ này “chiến lược ta đã thắng chiến lược địch”. Địch muốn đánh chớp nhoáng, Đảng và Chính phủ ta nêu khẩu hiệu “Trường kỳ kháng chiến”. Địch âm mưu chia rẽ, chúng ta nêu khẩu hiệu “Đoàn kết toàn dân”. Nước ta thiếu kém vật chất, Đảng và Chính phủ nêu khẩu hiệu Thi đua ái quốc, nhằm diệt ba thứ giặc: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Bác cũng đã nêu lên ngắn gọn về kết quả thi đua “Công nhân ta đã thi đua chế tạo vũ khí cho bộ đội. Bộ đội ta đã hăng hái luyện quân lập công và đã có kết quả tốt. Những cuộc thắng trận vừa qua đã chứng tỏ rõ điều đó. Nhân dân ta đã hăng hái thi đua và đã có kết quả khá: Kinh tế nước ta lạc hậu, ta kháng chiến đã bốn, năm năm trường, nhưng vẫn chịu đựng được, không đến nỗi quá đói rách; đó là một chứng cớ. Đại đa số đồng bào thoát nạn mù chữ; đó là một kết quả vẻ vang mà thế giới đều khen ngợi”[9]. Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ ra khuyết điểm cần sửa chữa. Đó là việc tổ chức, theo dõi, trao đổi và tổng kết kinh nghiệm còn kém. Người đã phân tích cụ thể vì sao chúng ta phải kháng chiến trường kỳ, đã chỉ rõ các giai đoạn của cuộc kháng chiến, phân tích cục diện và biện pháp của quân ta để có thể thực hiện tổng phản công thắng lợi.

Nội dung thứ 9 của Báo cáo Chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn về “Sửa chữa những khuyết điểm sai lầm”. Người chỉ ra “mấy khuyết điểm và nhược điểm lớn”. Thứ nhất là “việc học tập chủ nghĩa còn kém, cho nên tư tưởng chưa thuần thục, trình độ lý luận còn non nớt”[10]. Đó là nguyên nhân dẫn đến những sai lầm hoặc “tả” hoặc “hữu”. Thứ hai là công tác tổ chức kém, không đảm bảo thi hành đúng chính sách. Thứ ba là bệnh chủ quan, quan liêu, mệnh lệnh, hẹp hòi và bệnh công thần. Người đã chỉ ra biểu hiện của từng căn bệnh. Nguyên nhân của những bệnh ấy là do Trung ương chưa chú trọng việc kiểm tra; sự huấn luyện về chủ nghĩa chưa khắp, chưa đủ; dân chủ trong Đảng chưa thực hiện rộng rãi; phê bình và tự phê bình chưa thành nền nếp thường xuyên. Từ đó Người đã đề ra các việc cần làm: phải giáo dục chủ nghĩa, nâng cao tư tưởng chính trị; xây dựng và phát triển lối làm việc tập thể; củng cố mối liên hệ giữa Đảng với dân; đề cao tinh thần kỷ luật, nguyên tắc, tính Đảng; tăng cường tự phê bình và phê bình; kiểm tra chặt chẽ.

Nội dung thứ 10 – nội dung cuối cùng của Báo cáo Chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành để bàn về “Tình hình mới và nhiệm vụ mới”. Người đã phân tích cục diện thế giới lúc bấy giờ gồm hai phe: Phe dân chủ và phe phản dân chủ. Phe dân chủ do Liên Xô lãnh đạo, gồm các nước xã hội chủ nghĩa, các nước dân chủ mới ở Châu Âu, châu Á. Phe phản dân chủ do Mỹ cầm đầu, với Anh, Pháp là tay phải tay trái, các chính phủ phản động ở phương Đông và phương Tây là lâu la của Mỹ. Đồng thời Người phân tích âm mưu, tham vọng, các kế hoạch chiến tranh của Mỹ cũng chỉ ra điểm yếu của Mỹ: kinh tế khủng hoảng; nội bộ Mỹ có nhiều mâu thuẫn; Mỹ quá tham, mặt trận quá dài, quá rộng nên lực lượng mỏng manh. Việt Nam là một bộ phận của phe dân chủ thế giới, có nhiệm vụ chống đế quốc, chống phe phản dân chủ. Tình hình thế giới và Việt nam có quan hệ mật thiết. “Thắng lợi của phe dân chủ là thắng lợi của ta, mà ta thắng lợi cũng là phe dân chủ thắng lợi. Vì vậy, khẩu hiệu chính của ta ngày nay là: Tiêu diệt thực dân Pháp và đánh bại bọn can thiệp Mỹ, giành thống nhất độc lập hoàn toàn, bảo vệ hòa bình thế giới”[11].

Từ tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên hai nhiệm vụ chính: Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và tổ chức Đảng Lao động Việt Nam. Để làm được nhiệm vụ thứ nhất thì phải xây dựng, phát triển quân đội; phát triển, củng cố dân quân du kích; phát triển tinh thần yêu nước; đẩy mạnh thi đua ái quốc; củng cố Mặt trận Liên Liệt – Việt Minh; thực hiện chính sách ruộng đất; bảo vệ, phát triển nền tảng kinh tế của ta, đấu tranh kinh tế với địch; xúc tiến công tác văn hóa; thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc; thực hiện liên minh, đoàn kết quốc tế. Để thực hiện nhiệm vụ thứ hai thì phải chú ý đến thành phần, lý luận, tổ chức, kỷ luật, luật phát triển, mục đích trước mắt của Đảng Lao động Việt Nam. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định chắc chắn “nhiệm vụ thứ nhất, nhiệm vụ cấp bách nhất của Đảng ta ngày nay là phải đưa kháng chiến đến thắng lợi. Các nhiệm vụ khác đều phải phụ thuộc vào đó”[12].

Đại hội II nói chung, Báo cáo Chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo nói riêng là dấu ấn nổi bật trong pho sử vàng của Đảng ta, mở ra bước ngoặt trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam với những quyết sách hệ trọng, sáng suốt: Đảng từ bí mật đã chuyển ra hoạt động công khai với tên gọi mới là Đảng Lao động Việt Nam. Báo cáo xác định rõ đường lối cách mạng Việt Nam, trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ quan trọng nhất lúc bấy giờ là kháng chiếng thành công “Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của đại bộ phận giai cấp đến vạn năm sau cũng không đòi lại được”. Báo cáo Chính trị đã tổng kết thực tiễn, hoàn thiện lý luận về đường lối cách mạng Việt Nam, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi đến thắng lợi hoàn toàn.

 



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, HN – 2011, tập 7, trang 18.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, HN – 2011, tập 7, trang 20-21

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, HN – 2011, tập 7, trang 22.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, HN – 2011, tập 7, trang 22.

[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, HN – 2011, tập 7, trang 23.

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, HN – 2011, tập 7, trang 25.

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, HN – 2011, tập 7, trang 26.

[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, HN – 2011, tập 7, trang 28.

[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, HN – 2011, tập 7, trang 28-29.

[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, HN – 2011, tập 7, trang 32

[11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, HN – 2011, tập 7, trang 37

[12] Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, HN – 2011, tập 7, trang 41

 

Joomla inotur picma